https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/issue/feedTạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng2025-03-18T09:44:31+00:00Tạp chí Vật liệu & Xây dựngcontact@jomc.vnOpen Journal Systems<div class="description"> <p><strong>Tạp chí Vật liệu và Xây dựng </strong></p> <p>Tạp chí Vật liệu và Xây dựng là tạp chí khoa học của Viện Vật liệu xây dựng (VIBM), tiền thân là Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển Vật liệu xây dựng (ISSN1859-381X), được thành lập ngày 16/02/2011 theo Giấy phép số 175/GP-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông với số lượng xuất bản ban đầu là 04 số/năm, ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng Việt. Năm 2014, Bộ Thông tin và Truyển thông cho phép Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển VLXD tăng kỳ xuất bản và bổ sung ngôn ngữ tiếng Anh (Journal of Building Materials Research and Development – ISSN1859-381X) theo Giấy phép số 221/GP-BTTTT ngày 17/07/2014.</p> <p>Với mục tiêu phát triển Tạp chí theo hướng mở rộng lĩnh vực, nội dung, tăng cường chất lượng và số lượng, hướng tới hội nhập quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển vật liệu xây dựng đã đề nghị và được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép (số 564/GP-BTTTT ngày 03/12/2020) đổi tên thành Tạp chí Vật liệu và Xây dựng – Journal of Materials and Construction. Tạp chí Vật liệu và Xây dựng là tạp chí khoa học có phản biện, đăng tải các bài báo khoa học thuộc lĩnh vực vật liệu xây dựng; cơ khí xây dựng; kiến trúc và qui hoạch; kinh tế và quản lý xây dựng; hạ tầng kỹ thuật và môi trường xây dựng,…</p> <p>Website chính thức của Tạp chí bằng tiếng Việt (ISSN1859-381X) và Tạp chí bằng tiếng Anh là (ISSN 2734-9438) tương ứng như sau:</p> <p><a href="https://jomc.vn/">https://jomc.vn/</a></p> <p><a href="https://jomc.vn/en/home/">http://jomc.vn/en</a></p> <p>Để xứng đáng với sự tin cậy của quý bạn đọc và đáp ứng yêu cầu chất lượng cao của Tạp chí, Ban Biên tập Tạp chí rất mong tiếp tục nhận được sự đồng hành, đóng góp nhiệt tình của các nhà khoa học, các chuyên gia, các đối tác trong và ngoài nước bằng cách đóng góp ý kiến, gửi bài đăng trên Tạp chí và đọc phản biện cho các bài báo gửi đến Tạp chí.</p> <p>Xin trân trọng cảm ơn!</p> </div>https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/820Nghiên cứu ảnh hưởng của phụ gia khoáng hoạt tính cao và sợi hỗn hợp lên các tính chất của bê tông tính năng cao sử dụng nguyên vật liệu phía Nam2025-02-11T02:07:03+00:00Nguyễn Thị Thu Thủythuyntt_ph@utc.edu.vnNguyễn Công Hậuhaunc_ph@utc.edu.vn<p>Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu sử dụng phụ gia khoáng hoạt tính cao Silicafume và tro bay (FA) của nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ với hàm lượng lớn và các nguyên vật liệu phía Nam, sợi thép (SF) và sợi Polypropylene (PP) để chế tạo bê tông tính năng cao (HPC). Loại bê tông này có thể đạt cường độ chịu nén thiết kế 28 ngày cao hơn 80MPa, tuy nhiên có mẫu thực tế đạt trên 100MPa. Nghiên cứu các cấp phối bê tông ở các tỷ lệ phối trộn Phụ gia Silicafume 10%, 7%; Tro bay 40%, 50% so với xi măng; thể tích sợi thép lần lượt là 0,4%; 0,8%, 1,2%; tỷ lệ phối trộn sợi PP là 1,2%, và cấp phối hỗn hợp 0,6% SF và 0,6%PP. Nhận thấy khi thêm Phụ gia Silicafume 7% và tro bay 50% thì độ linh động hỗn hợp bê tông khá tốt đạt 18cm và cường độ chịu nén cao (102,8MPa). Khi thêm sợi thép và sợi PP vào hỗn hợp bê tông thì độ sụt giảm, nhất là sợi PP giảm mạnh từ 18cm xuống còn 5 cm; cường độ chịu nén, cường độ chịu kéo khi ép chẻ ở 28 ngày tăng thêm 9% đến 14% so với mẫu không có sợi; độ hút nước cũng giảm mạnh. Nghiên cứu đề xuất tỷ lệ phối trộn hợp lý của bê tông HPC là Silicafume 7%; tro bay 50%; 0,6% SF và 0,6%PP để đáp ứng đồng thời các tiêu chí về tính công tác, cường độ, độ hút nước và giá thành.</p>2025-03-10T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựnghttps://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/864CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT SINH CHẤT THẢI XÂY DỰNG TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU2025-03-14T02:22:10+00:00Hồng Dương Lêlemaihuong1811.hlm@gmail.com<p>Chất thải từ hoạt động xây dựng được xem là vấn đề ngày càng được quan tâm khi quá trình đô thị hóa tạo ra một lượng lớn chất thải xây dựng. Chất thải xây dựng (CTXD) tác động tiêu cực đến ngành xây dựng nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung, gây tác động tiêu cực đến môi trường và làm giảm hiệu quả sử dụng tài nguyên, việc xử lý chất thải xây dựng sẽ đóng bảo vệ môi trường chung. Theo xu hướng phát triển, bảo vệ môi trường hiện nay đang là vấn đề cấp thiết toàn cầu, hiểu biết toàn diện về các yếu tố tạo ra chất thải xây dựng sẽ cho phép quản lý và giảm thiểu chất thải xây dựng hiệu quả. Hiện nay, tại Việt Nam, các giải pháp làm giảm lượng chất thải xây dựng chưa thực sự được các nhà thầu quan tâm và đầu tư. Bài báo này sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lượng CTXD phát sinh, bao gồm thiết kế, quản lý, thi công, vật liệu và hành vi con người. Đồng thời, đề xuất các giải pháp hữu ích, dễ áp dụng để các kỹ sư xây dựng, nhà thầu áp dụng nhằm làm giảm thiểu lượng CTXD trong quá trình thi công, góp phần hướng đến phát triển bền vững.</p>2025-04-03T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựnghttps://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/847Quản trị nhân sự quản lý dự án trong ngành xây dựng: thách thức và cơ hội của cách mạng công nghiệp 4.0 2025-03-11T02:55:43+00:00Nguyễn Văn Tâmtoannq@huce.ed.vnNguyễn Quốc Toảntoannq@huce.edu.vnVũ Văn Phongtoannq@huce.ed.vnTrần Đức Giangtoannq@huce.ed.vn<p>Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong ngành xây dựng, đặc biệt là trong quản trị nhân sự quản lý dự án. Sự xuất hiện của các công nghệ như BIM, AI, IoT và Big Data không chỉ tối ưu hóa quy trình làm việc mà còn đặt ra yêu cầu mới đối với đội ngũ nhân sự. Nghiên cứu này tổng hợp các tài liệu hiện có, phân tích những thách thức và cơ hội trong quản trị nhân sự dưới tác động của công nghệ 4.0, đồng thời đề xuất mô hình quản trị nhân sự với ba trụ cột chính: ứng dụng công nghệ, phát triển năng lực nhân sự và tối ưu hóa quy trình quản lý dự án. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm rõ khoảng trống nghiên cứu mà còn gợi mở các hướng phát triển mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhân sự trong ngành xây dựng hiện đại</p>2025-03-17T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựnghttps://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/829ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRỢ NGHIỀN CỦA PHỤ GIA TEA VÀ DEIPA2025-01-09T05:09:45+00:00Trần Lê Hồnghongtl@huce.edu.vnHoàng Vĩnh Longlonghv@huce.edu.vnNguyễn Trường Gianggiangnt@huce.edu.vnPhạm Minh Đứcm1nhduccytbg@gmail.comNguyễn Văn Vũnvv08112003@gmail.com<p>Hiện nay, phần lớn xi măng được sản xuất theo phương pháp khô vì những hiệu quả về mặt kinh tế và kĩ thuật mà nó mang lại. Trong quá trình sản xuất, công đoạn nghiền xi măng có ảnh hưởng trực tiếp độ mịn từ đó ảnh hưởng đến chất lượng xi măng. Trong các biện pháp nâng cao hiệu quả nghiền, phụ gia trợ nghiền là giải pháp thường được sử dụng. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu đánh giá hiệu quả trợ nghiền của hai loại phụ gia Diethanolisopropanolamine (DEIPA) và Trietanolamine (TEA). Trong nghiên cứu sử dụng các nguyên liệu chế tạo xi măng PCB30 của xi măng Hải Phòng gồm: clinker, đá vôi PG, đá vôi đen, xỉ nhiệt điện và thay thế thạch cao tự nhiên bằng thạch cao nhân tạo PG Đình Vũ. Hiệu quả của việc sử dụng phụ gia trợ nghiền được đánh giá thông qua độ sót sàng, tỷ diện tích bề mặt và cường độ nén ở tuổi 28 ngày của xi măng theo các phương pháp tiêu chuẩn TCVN. Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ gia DEIPA giúp tăng tỷ diện tích bề mặt và cường độ nén của xi măng.</p>2025-03-10T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựnghttps://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/874Dự đoán khả năng chịu nén của cột ống thép nhồi bê tông mặt cắt hình vuông chịu tải trọng lệch tâm2025-03-17T07:21:44+00:00Nguyễn Quang Sĩsinq_ph@utc.edu.vnDương Hoàng Anh6251100001@st.utc2.edu.vnNgô Kỳ Anh6251100063@st.utc2.edu.vnTrần Quốc Anh6251100064@st.utc2.edu.vnLê Tấn Phú6251100039@st.utc2.edu.vn<p>Bài báo trình bày nghiên cứu về cột vuông ống thép nhồi bê tông (CFST) chịu tải trọng lệch tâm bằng mô hình học máy. Cơ sở dữ liệu gồm 275 mẫu được thu thập từ các nghiên cứu thực nghiệm và mô phỏng trên thế giới. Phương pháp hồi quy kí tự Qlattice – mô hình được lấy cảm hứng từ lý thuyết lượng tử được sử dụng để xây dựng phương trình xác định khả năng chịu nén của cột CFST chịu tải trọng lệch tâm. So sánh với kết quả từ các nghiên cứu và kết quả khi tính toán theo tiêu chuẩn GB 50936-2014 cho thấy mô hình đạt được độ chính xác khá cao</p>2025-03-25T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựnghttps://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/858Phân tích diễn biến theo mùa của cửa sông Cửa Cạn, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang2025-03-04T03:38:57+00:00Đinh Văn Duydvduy19@gmail.comPhạm Tấn Đạt11352031@mail.ntou.edu.twPhạm Hoàng Huyhoanghuyphamcamau@gmail.comTrần Văn Tỷtvty@ctu.edu.vnHuỳnh Thị Cẩm Hồnghtchong@ctu.edu.vn<p>Ảnh Sentinal-2 với độ phân giải 10 m được sử dụng để khảo sát Diễn biến hình thái doi cát hai bên cửa sông Cửa Cạn thuộc thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang kết hợp với số liệu sóng thực đo trong năm 2021 tại trạm khí tượng hải văn Phú Quốc. Kết quả phân tích cho thấy doi cát tại cửa sông Cửa Cạn Diễn biến theo mùa với sự đứt gãy và kéo dài xen kẽ nhau. Trong đó, sự đứt gãy của các doi cát chủ yếu do dòng chảy trong mùa lũ từ sông Cửa Cạn từ tháng 12 đến tháng 4, sự đứt gãy này tạo ra cồn cát chắn giữa cửa sông. Vào mùa gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, sóng theo hướng Tây Nam tạo ra dòng vận chuyển bùn cát ven bờ mang bùn cát đến cửa sông Cửa Cạn và bồi lấp cửa sông nối liền cồn cát vào bờ Nam tạo thành một doi cát mới. Dựa vào diễn biến diện tích doi cát ở bờ Nam, lưu lượng vận chuyển bùn cát dọc theo bờ Nam biển Cửa Cạn tính được gần 5.000 m3/năm. Giá trị này tương đương với các nghiên cứu trước về lưu lượng vận chuyển bùn cát tại biển Cửa Cạn. Nghiên cứu đã tìm ra được quy luật diễn biến theo mùa của cửa sông Cửa Cạn và góp phần vào việc đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm ổn định cửa sông.</p>2025-03-25T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựnghttps://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/837Nghiên cứu ảnh hưởng của phụ gia siêu dẻo đến tính chất của vữa Geopolyme sử dụng tro bay và xỉ lò cao2025-02-12T02:30:55+00:00Lê Thanh Hàhalethanh@utc.edu.vn Đặng Thùy Chithuychi.dang@utc.edu.vnNguyễn Thị Thu Thủythuyntt_ph@utc.edu.vn<p>Bài báo trình bày ảnh hưởng của hai loại phụ gia siêu dẻo (PGSD) đến tính chất của vữa Geopolymer sử dụng tro bay và xỉ lò cao. Vữa Geopolymer được chế tạo từ Natri metasilicate, tro bay, xi lò cao nghiền mịn, cát sông, nước và hai loại PGSD. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng mỗi loại phụ gia siêu dẻo có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến tính chất của vữa Geopolymer, tuy nhiên không khác biệt nhiều. Tăng lượng dùng PGSD làm tăng tính công tác của vữa Geopolymer, làm giảm cường độ nén và kéo uốn ở tuổi sớm (3,7 ngày) nhưng không ảnh hưởng nhiều ở tuổi 28 ngày. Vữa Geopolymer có cường độ nén và kéo uốn thấp hơn so với vữa xi măng PCB40. Ảnh hưởng của PGSD đến tính chất của vữa xi măng hiệu quả hơn so với vữa Geopolymer.</p>2025-03-20T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựnghttps://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/876Vai trò của chủ đầu tư trong nâng cao hiệu quản lý an toàn lao động và bảo vệ môi trường tại công trường xây dựng2025-03-18T09:44:31+00:00Nguyễn Văn Tâmtoannq@huce.edu.vnNguyễn Quốc Toảntoannq@huce.edu.vnTrần Trung Kiêntoannq@huce.edu.vnNguyễn Văn Việttoannq@huce.edu.vn<p>Bài báo phân tích vai trò của chủ đầu tư trong việc nâng cao hiệu quả quản lý an toàn lao động và bảo vệ môi trường tại công trường xây dựng. Chủ đầu tư đóng vai trò trung tâm trong việc đảm bảo các quy trình an toàn lao động và bảo vệ môi trường được thực hiện đúng quy định pháp luật và đạt hiệu quả thực tiễn. Bài viết nhấn mạnh trách nhiệm pháp lý và đạo đức của chủ đầu tư, đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu tai nạn lao động và tác động tiêu cực đến môi trường, từ đó nâng cao chất lượng và tính bền vững của dự án. Tuy nhiên, việc quản lý an toàn lao động và bảo vệ môi trường còn gặp nhiều thách thức như hạn chế về nhận thức của người lao động, thiếu nguồn lực tài chính và khó khăn trong giám sát nhà thầu. Để khắc phục những vấn đề này, bài báo đề xuất các giải pháp như tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức của công nhân và nhà thầu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại như IoT, BIM, AI trong giám sát công trường, và cải thiện cơ chế kiểm soát chất thải, tiếng ồn và ô nhiễm không khí. Việc chủ động thực hiện các biện pháp quản lý hiệu quả sẽ giúp giảm thiểu rủi ro, tăng năng suất lao động, đảm bảo tiến độ thi công và xây dựng một môi trường làm việc an toàn, thân thiện với môi trường, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững trong ngành xây dựng.</p>2025-03-18T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựnghttps://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/840Về áp dụng tiêu chuẩn nước ngoài với hoạt động xây dựng, có cập nhật nghị định 175/2024 NĐ-CP2025-02-14T09:21:32+00:00Mai Trọng Nghĩanghiamt@hau.edu.vn<p>Bài báo trình bày việc áp dụng tiêu chuẩn nước ngoài với hoạt động xây dựng tuân thủ theo yêu cầu của Luật Xây dựng, Nghị định 175/2024 NĐ-CP. Đề cập đến việc tuân thủ các quy định khi áp dụng tiêu chuẩn EN 10080 Thép cốt bê tông phù hợp trong hoạt động xây dựng tại Việt Nam.</p>2025-03-15T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựnghttps://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/844Nghiên cứu một số tồn tại khi sản xuất và sử dụng đá dăm làm lớp móng đường khu vực phía Nam2025-02-18T07:10:16+00:00Ninh Khắc Tôntonnk@utc.edu.vnNguyễn Thị Quỳnh Nhưtonnk@utc.edu.vnLương Đức Chungtonnk@utc.edu.vn<p>Bài báo này trình bày đá là vật liệu quan trọng và không thể thiếu trong các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và giao thông. Tại Việt Nam, hàng năm, lượng đá sử dụng lên tới hàng trăm triệu m³ với nhiều loại khác nhau như đá hộc, đá dăm, đá 1x2, 2x4, 4x6, đá mi và cấp phối đá dăm. Tuy nhiên, quá trình sản xuất đá hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, đặc biệt trong việc sản xuất đá dăm phục vụ làm móng đường ô tô ở khu vực phía Nam. Vì vậy, để quá trình sản xuất đá đạt hiệu quả cao thì chúng ta cần tìm ra những tồn tại khi sản xuất và đề ra giải pháp khắc phục</p>2025-03-20T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng