https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/issue/feed Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng 2024-06-11T11:19:34+00:00 Tạp chí Vật liệu & Xây dựng contact@jomc.vn Open Journal Systems <div class="description"> <p><strong>Tạp chí Vật liệu và Xây dựng </strong></p> <p>Tạp chí Vật liệu và Xây dựng là tạp chí khoa học của Viện Vật liệu xây dựng (VIBM), tiền thân là Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển Vật liệu xây dựng (ISSN1859-381X), được thành lập ngày 16/02/2011 theo Giấy phép số 175/GP-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông với số lượng xuất bản ban đầu là 04 số/năm, ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng Việt. Năm 2014, Bộ Thông tin và Truyển thông cho phép Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển VLXD tăng kỳ xuất bản và bổ sung ngôn ngữ tiếng Anh (Journal of Building Materials Research and Development – ISSN1859-381X) theo Giấy phép số 221/GP-BTTTT ngày 17/07/2014.</p> <p>Với mục tiêu phát triển Tạp chí theo hướng mở rộng lĩnh vực, nội dung, tăng cường chất lượng và số lượng, hướng tới hội nhập quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển vật liệu xây dựng đã đề nghị và được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép (số 564/GP-BTTTT ngày 03/12/2020) đổi tên thành Tạp chí Vật liệu và Xây dựng – Journal of Materials and Construction. Tạp chí Vật liệu và Xây dựng là tạp chí khoa học có phản biện, đăng tải các bài báo khoa học thuộc lĩnh vực vật liệu xây dựng; cơ khí xây dựng; kiến trúc và qui hoạch; kinh tế và quản lý xây dựng; hạ tầng kỹ thuật và môi trường xây dựng,…</p> <p>Website chính thức của Tạp chí bằng tiếng Việt (ISSN1859-381X) và Tạp chí bằng tiếng Anh là (ISSN 2734-9438) tương ứng như sau:</p> <p><a href="http://jomc.vn/en">http://jomc.vn/vn</a></p> <p><a href="http://jomc.vn/vn">http://.jomc.vn</a><a href="http://jomc.vn/vn">/en</a></p> <p>Để xứng đáng với sự tin cậy của quý bạn đọc và đáp ứng yêu cầu chất lượng cao của Tạp chí, Ban Biên tập Tạp chí rất mong tiếp tục nhận được sự đồng hành, đóng góp nhiệt tình của các nhà khoa học, các chuyên gia, các đối tác trong và ngoài nước bằng cách đóng góp ý kiến, gửi bài đăng trên Tạp chí và đọc phản biện cho các bài báo gửi đến Tạp chí.</p> <p>Xin trân trọng cảm ơn!</p> </div> https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/675 Nghiên cứu sử dụng tro bay và xỉ đáy lò của nhà máy điện rác Ngôi Sao Xanh để chế tạo bê tông cường độ cao trong điều kiện phòng thí nghiệm 2024-04-24T01:34:40+00:00 Vũ Ngọc Trụ trunv@huce.edu.vn Tăng Văn Lâm lamvantang@gmail.com Hồ Anh Cương hoanhcuong@utc.edu.vn Lại Ngọc Hùng trunv@huce.edu.vn <p>Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về khả năng sử dụng các nguồn phế thải của nhà máy điện đốt rác Ngôi Sao Xanh để chế tạo bê tông cường độ cao trong điều kiện phòng thí nghiệm. Thành phần vật liệu sử dụng gồm có xi măng Portland hỗn hợp PCB40 Bút Sơn, cốt liệu mịn là cát vàng sông Lô, cốt liệu lớn là đá dăm kích thước 5÷10 mm, tro bay và xỉ đáy lò của nhà máy điện đốt rác Ngôi Sao Xanh kết hợp với phụ gia siêu dẻo giảm nước. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy khả năng sử dụng (20÷30)% các loại tro bay và xỉ đáy lò của nhà máy điện đốt rác để chế tạo bê tông cường độ cao. Hỗn hợp bê tông thu được có tính công tác tốt, độ sụt từ 15 cm đến 20 cm, cường độ nén ở tuổi 28 ngày dao động từ 50 MPa đến 60 MPa. Với quá trình phát triển các nhà máy đốt rác phát điện như hiện nay, thì việc nghiên cứu tải sử dụng các nguồn phế thải tro xỉ của các nhà máy điện đốt rác là cần thiết để góp phần thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn bền vững.</p> 2024-05-27T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/724 KHẢ NĂNG CHẾ TẠO BÊ TÔNG NHẸ VỚI CẤU TRÚC RỖNG TỔ ONG THAY ĐỔI TRÊN CƠ SỞ BỤI NHÔM PHẾ THẢI VÀ CHẤT TẠO BỌT EABASSOC 2024-06-11T11:19:34+00:00 Vũ Ngọc Trụ trunv@huce.edu.vn <p>Bài báo này trình bày một số kết quả thực nghiệm về công nghệ chế tạo và tính chất của bê tông nhẹ với cấu trúc rỗng thay đổi trong điều kiện phòng thí nghiệm. Với việc sử dụng hỗn hợp chất điều khiển cấu trúc gồm chất tạo bọt EABASSOC, bụi nhôm phế thải và dung dịch NaOH 5,0 M đã thu được sản phẩm bê tông nhẹ chứa lỗ rỗng tổ ong thay đổi từ khu vực trung tâm đến khu vực ngoại vi. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã sử dụng khuôn gỗ hình lập phương cạnh 150 mm với bốn thành khuôn được đục lỗ để loại bỏ thành phần pha lỏng và pha khí ra khỏi mẫu bê tông trong quá trình rắn chắc. Kết quả nghiên cứu cho thấy hoàn toàn có thể chế tạo được loại bê tông nhẹ với cấu trúc rỗng tế bào thay đổi có khối lượng thể tích khô trung bình 955 kg/m<sup>3</sup>; cường độ nén trung bình ở tuổi 28 ngày khoảng 14,73 MPa. Ảnh hưởng của cấu trúc rỗng thay đổi đến giá trị khối lượng thể tích và cường độ nén ở tuổi 28 ngày là khá rõ ràng. Ở khu vực bên ngoại vi, khối lượng thể tích trung bình đạt khoảng 1021 kg/m<sup>3</sup> nhưng tại tâm viên mẫu, giá trị khối lượng thể tích chỉ còn 798 kg/m<sup>3</sup>. Đồng thời, cường độ nén trung bình ở tuổi 28 ngày của mẫu cũng giảm mạnh, ở các vị trí ngoại vi cường độ đạt 17,99 MPa, nhưng tại vị trí trung tâm của mẫu, cường độ nén chỉ còn 5,75 MPa. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng đã so sánh tính chất của bê tông nhẹ với cấu trúc rỗng thay đổi với bê tông bọt sử dụng bột kim loại nhôm có cùng khối lượng thể tích ướt.</p> 2024-06-18T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/647 NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO GỐM XỐP CÓ SỬ DỤNG MÙN CƯA LÀM PHỤ GIA TẠO RỖNG 2024-02-28T02:58:39+00:00 Lê Văn Quyết quyet165064@huce.edu.vn Nguyễn Nhân Hòa hoann@huce.edu.vn Đặng Quang Dân dan30864@huce.edu.vn <p>Gạch xây làm từ đất sét, được tạo hình, sấy và nung ở nhiệt độ cao. Gốm là vật liệu truyền thống và có rất nhiều ưu điểm như chống cháy, chịu nhiệt độ cao và bền vững với môi trường. Xu hướng làm vật liệu gốm đa chức năng được quan tâm và phát triển. Hiện nay, những nghiên cứu về chế tạo vật liệu gốm để ứng dụng việc giảm tải trọng, tăng tính cách nhiệt, chống cháy, tăng khả năng tiêu âm,… chúng bền trong môi trường khắc nghiệt. Đặc điểm chung của các tính chất trên là làm cho vật liệu gốm có nhiều lỗ rỗng, có độ rỗng cao. Trong nghiên cứu này, mùn cưa được sử dụng theo tỷ lệ thay thế (từ 5 đến 20% trọng lượng đất sét) để chế tạo gốm xốp cường độ nén Rn ≥ 2 MPa, độ rỗng cao từ 39,77 đến 68,35%,…đồng thời đánh giá ảnh hưởng của hoàm lượng mùn cưa đến một số tính chất công nghệ tạo và tính chất vi cấu trúc của sản phẩm chế tạo.</p> 2024-06-18T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/701 ẢNH HƯỞNG CỦA NANOSILICA ĐẾN CƯỜNG ĐỘ LIÊN KẾT BỀ MẶT CỐT SỢI THÉP TRONG BÊ TÔNG CƯỜNG ĐỘ SIÊU CAO 2024-06-07T01:54:49+00:00 Đặng Văn Phi dangvanphi@humg.edu.vn Tăng Văn Lâm dangvanphi@humg.edu.vn Lê Huy Việt dangvanphi@humg.edu.vn Đàm Anh Tuấn dangvanphi@humg.edu.vn Hồng Tiến Thắng dangvanphi@humg.edu.vn Vũ Ngọc Trụ dangvanphi@humg.edu.vn <p>Bài báo trình bày sự ảnh hưởng của hàm lượng nanosilica (NS) đến cường độ liên kết bề mặt của cốt sợi thép trong bê tông cường độ siêu cao (UHPC). Khi thay thế hàm lượng xi măng bằng hàm lượng NS tương ứng từ 0,5 đến 2,0% trong thành phần cấp phối của UHPC, cường độ liên kết bề mặt của cốt sợi thép trong UHPC được cải thiện đáng kể và đạt được giá trị lớn nhất khi sử dụng hàm lượng 1,0% NS. Cường độ liên kết cực đại (τ<sub>peak</sub>) và tương đương (τ<sub>eq</sub>) của cốt sợi thép trong UHPC khi sử dụng hàm lượng 1,0% NS lần lượt là 13,63 MPa và 140,10 MPa. Khi được bổ sung thêm hàm lượng NS, cường độ liên kết của UHPC tăng lên là do NS đã làm tăng sự đặc chắc tại vùng chuyển tiếp xung quanh bề mặt cốt sợi thép và UHPC. Ngoài ra, khi sử dụng hàm lượng NS tăng từ 0,5 đến 1,0%, cường độ nén của UHPC có xu hướng tăng và đạt giá trị lớn nhất (201,51 ± 3,40 MPa) với hàm lượng 1,0% NS được sử dụng. Tuy nhiên, khi hàm lượng NS tăng từ 1,0 đến 2,0% cường độ nén của UHPC có xu hướng giảm. Hơn nữa, tính công tác của UHPC giảm khi bổ sung thêm NS trong thành phần cấp phối của UHPC. Độ chảy của các tổ hợp chứa các hàm lượng NS đều thấp hơn 235 mm, trong khi độ chảy của mẫu đối chứng là 245 mm.</p> 2024-06-18T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/587 HIỆU QUẢ CỦA GIẢI PHÁP GIA CƯỜNG NHÀ KẾT CẤU TƯỜNG GẠCH BẰNG LỚP VỮA CỐT VẢI DỆT 2024-05-13T07:31:41+00:00 Thuyết Ngô thuyet.kcct@tlu.edu.vn <p>Nhà thấp tầng kết cấu tường gạch được sử dụng phổ biến ở những nước đang phát triển. Kết cấu này thường bị hư hỏng khi chịu tải trọng ngang. Mức độ hư hỏng của công trình phụ thuộc vào độ lớn của tải trọng ngang. Giải pháp gia cường nhà kết cấu tường gạch bằng lớp vữa cốt vải dệt là một giải pháp mới, đang được nghiên cứu và áp dụng trên thế giới, nhưng ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu về giải pháp này. Nghiên cứu này khảo sát mức độ hư hỏng của nhà kết cấu tường gạch không gia cường và được gia cường bằng lớp vữa cốt vải dệt khi chịu tải trọng ngang bằng phân tích mô hình số. Kết quả phân tích cho thấy để nhà bị hư hỏng ở cùng một mức độ, tải trọng ngang tác động vào công trình được gia cường lớn hơn tải trọng ngang tác động vào công trình không gia cường.</p> 2024-05-29T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/674 Đánh giá sức chịu tải của móng cọc công trình bằng phần mềm phân tích phần tử hữu hạn 3D 2024-04-03T03:45:11+00:00 Hoàng Công Vũ hoangcongvu@qnu.edu.vn Nguyễn Anh Ngữ hoangcongvu@qnu.edu.vn Hồ Đình Chương hoangcongvu@qnu.edu.vn Lê Minh Tân hoangcongvu@qnu.edu.vn Trần Phương Bách hoangcongvu@qnu.edu.vn Trần Phương Bách hoangcongvu@qnu.edu.vn Nguyễn Xuân Thành hoangcongvu@qnu.edu.vn <p>Bài báo này nghiên cứu về khả năng đánh giá sức chịu tải của móng cọc ở các khía cạnh xét đến ảnh hưởng của khoảng cách giữa các cọc, số lượng cọc và chiều dài cọc đến sức chịu tải của nhóm cọc có xét tới hiệu ứng nhóm trong điều kiện địa chất cụ thể, thông qua việc sử dụng phần mềm Plaxis 3D Foundation.</p> 2024-05-20T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/719 Đo lường năng suất lao động trong xây dựng tại hiện trường bằng phương pháp lấy mẫu công việc 2024-06-10T09:02:19+00:00 Đức Lợi Nguyễn loind@dhhp.edu.vn <p>Năng suất lao động ngày càng cho thấy tầm quan trọng của nó, là một trong những yếu tố giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển, thể hiện năng lực của mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành nghề và mỗi quốc gia. Bài viết giới thiệu việc sử dụng phương pháp lấy mẫu công việc để đo lường, dự báo năng suất lao động trong thi công xây dựng tại hiện trường. Phương pháp này dựa trên nguyên tắc thống kê để đánh giá tỷ lệ thời gian hữu ích nhằm tạo ra sản phẩm. Lấy mẫu công việc được dùng để đánh giá nhằm cải thiện tiến trình thực hiện công việc, từ đó gia tăng hiệu quả công việc. Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện tại một số dự án xây dựng nhà cao tầng đang được thi công tại thành phố Hải Phòng.</p> 2024-06-18T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/583 Các đặc tính kỹ thuật của vữa xây dựng sử dụng xỉ lò cao nghiền mịn thay thế một phần xi măng 2023-12-22T01:12:14+00:00 Nguyễn Văn Dũng nguyenvandung@hdu.edu.vn Lê Thị Thanh Tâm nguyenvandung@hdu.edu.vn Mai Thị Ngọc Hằng nguyenvandung@hdu.edu.vn <p>Xi măng và thép là hai vật liệu chính được tiêu thụ trong ngành xây dựng. Tuy nhiên việc sản xuất xi măng tiêu hao một nguồn lớn tài nguyên, đồng thời thải ra môi trường một lượng lớn khí CO<sub>2</sub> gây hiệu ứng nhà kính. Trong khi đó, quá trình sản xuất thép cũng thải ra một lượng lớn xỉ lò cao, chúng cần được tái sử dụng để không gây ảnh hưởng đến môi trường. Nghiên cứu này sử dụng xỉ lò cao nghiền mịn (XLCNM) trong sản xuất vữa xây dựng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, độ co khô của vữa giảm đáng kể khi sử dụng XLCNM. Với hàm lượng XLCNM hợp lý (15% hoặc 30%) có thể cải thiện khả năng chịu lực cũng như khả năng chống lại sự xâm thực của các ion Clo. Tất cả các mẫu vữa trong nghiên cứu này đều có cường độ chịu nén lớn hơn 80 MPa và khả năng chống lại sự xâm thực của ion Clo.</p> 2024-05-27T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/691 Đầu tư xây dựng nhà ở xã hội từ góc nhìn của nhà đầu tư: Thực trạng, thách thức và kiến nghị 2024-05-07T10:45:14+00:00 Thị Tuyết Dung Nguyễn dungntt@hau.edu.vn Vũ Lê Toàn Huy dungntt@hau.edu.vn Thị Thùy Linh Bùi dungntt@hau.edu.vn Phương Thảo Hoàng dungntt@hau.edu.vn Quỳnh Anh Nguyễn dungntt@hau.edu.vn <p>Đầu tư theo phương thức đối tác công tư đã được thực hiện ở Việt Nam hơn 20 năm, bắt đầu từ năm 1997. Các văn bản pháp lý đã được điều chỉnh, hoàn thiện dần theo thời gian. Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư được Quốc hội ban hành năm 2020 với mục đích đẩy mạnh thu hút vốn tư nhân đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng, tránh các tiêu cực không mong muốn của các dự án thực hiện theo phương thức này. Tuy nhiên, nguồn vốn tư nhân trong nước và quốc tế vẫn chưa đạt được như kỳ vọng. Bài báo phân tích các quy định pháp luật hiện hành về Hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư tại Việt Nam, làm rõ những điểm mới và các vướng mắc mà các bên liên quan gặp phải, đặc biệt là khu vực tư nhân như các điều khoản không rõ ràng về quyền lợi, trách nhiệm, về các tiêu chí xác định nhà đầu tư thay thế, giá trị chuyển nhượng, vị thế giữa các bên, thiếu hợp đồng mẫu... Những vướng mắc này gây ra các tranh chấp, thất thoát, lãng phí nguồn lực. Từ đó, bài báo đề xuất các kiến nghị, làm rõ những vấn đề tồn tại để các quy định về hợp đồng dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư hoàn thiện hơn, tạo thuận lợi hơn nữa cho nhà đầu tư và các cơ quan quản lý trong việc triển khai dự án.</p> 2024-05-10T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/617 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CÁT NHÂN TẠO ĐỂ CHẾ TẠO VỮA CỌC MICROPILE 2023-12-19T06:03:33+00:00 Mạnh Nguyễn Văn nguyenvanmanh@humg.edu.vn Đức Bùi Văn buivanduc@humg.edu.vn Việt Lê Huy lehuyviet@humg.edu.vn Lâm Đào Phúc nguyenvanmanh@humg.edu.vn Lâm Tăng Văn tangvanlam@humg.edu.vn Tiến Trần Văn nguyenvanmanh@humg.edu.vn <p>Hiện nay, nhu cầu sử dụng cát để làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, nguồn cung từ cát tự nhiên rất hạn chế so với nhu cầu, đồng thời quá trình khai thác cát tự nhiên thường gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường. Cát nhân tạo còn được gọi là cát nghiền là sản phẩm nghiền từ đá tự nhiên. Tiềm năng sản xuất cát nhân tạo ở Việt Nam là rất lớn do gần 80% diện tích tự nhiên là đồi núi. Cọc micropile (đường kính £ 300mm) thường được sử dụng làm móng hoặc gia cường nền móng các công trình cổ, cũ cần nâng cấp, đặc biệt trong điều kiện không gian thi công hạn chế và ít gây ảnh hưởng đến các công trình lân cận. Vữa cọc micropile thường được chế tạo từ hỗn hợp nước và xi măng với tỉ lệ N/X = 0,4 ÷ 0,5, cường độ chịu nén của vữa ở 28 ngày tuổi đạt 30 ÷ 40MPa, độ chảy xòe 18 ÷ 20cm để đảm bảo tính công tác khi bơm. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng cát nhân tạo được nghiền từ đá granite (Ninh Thuận) để chế tạo vữa cọc micropile đảm bảo các yêu cầu đặt ra. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy cường độ chịu nén của vữa cọc micropile sử dụng cát nghiền có thể đạt 46,3MPa khi tỉ lệ N/X = 0,43; độ chảy xòe của hỗn hợp vữa đạt trung bình 22,6cm. Những giá trị này của vữa chế tạo từ cát nhân tạo hoàn toàn phù hợp để sử dụng làm thành phần của vữa cọc micropile theo một số hướng dẫn thiết kế và thi công hiện hành.</p> 2024-05-10T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/574 Nghiên cứu đánh giá khả năng sử dụng xỉ nhôm chế tạo gạch cho các công trình văn hóa 2023-09-29T16:13:16+00:00 Hoang Long longhv@huce.edu.vn Văn Bình Trần longhv@huce.edu.vn Thị Thanh Chúc Nguyễn longhv@huce.edu.vn Văn Hùng Đỗ longhv@huce.edu.vn Đức Tâm Cao longhv@huce.edu.vn <p>Hiện nay, nhôm được sản xuất theo hai phương pháp cơ bản: sản xuất trực tiếp từ bauxit và tái chế từ các phế liệu nhôm. Quá trình tái chế nhôm tạo ra xỉ nhôm gây ô nhiễm môi trường. &nbsp;Tuy nhiên chất thải này có hàm lượng oxit nhôm cao có thể trở thành loại nguyên vật liệu tiềm năng để sản xuất các loại vật liệu nung. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu sử dụng xỉ nhôm để chế tạo gạch định hướng phục vụ các công trình văn hóa. Trong nghiên cứu sử dụng xỉ nhôm với hàm lượng 40÷60%, và tạo hình mẫu gạch theo phương pháp bán khô. Kết quả cho thấy, các sản phẩm gạch có bề mặt khá đẹp, cường độ chịu nén cao khoảng 400kG/cm<sup>2</sup>, và độ hút nước 10÷12% đạt yêu cầu kỹ thuật theo TCVN 1451:1998. Kết quả nghiên cứu có thể góp phần vào việc giải quyết vấn đề môi trường tại các làng nghề tái chế nhôm ở Việt Nam.</p> 2024-05-20T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/693 Quản lý rủi ro an toàn của các công trình xung quanh trong quá trình xây dựng tuyến tàu điện ngầm tại thành phố Hà Nội 2024-05-04T01:24:43+00:00 Công Giang Nguyễn gianglientca@gmail.com <p>Thành phố Hà Nội đang đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá đô thị và tầm quan trọng trong việc nâng cao hạ tầng giao thông là không thể phủ nhận. Điều này không chỉ thúc đẩy sự phát triển của giao thông đô thị mà còn đáp ứng được yêu cầu đặc thù của thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, tác động của việc xây dựng hệ thống tàu điện ngầm đối với các công trình xung quanh không hề nhỏ. Điều này đặt ra những thách thức lớn trong việc thi công, đòi hỏi các biện pháp kiểm soát độ lún và độ nghiêng của các công trình xây dựng bên trên mặt đất để đảm bảo an toàn và hiệu quả cho cả hệ thống tàu điện ngầm và môi trường xung quanh. Mục tiêu của bài báo này là đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc xây dựng tuyến tàu điện ngầm đối với các công trình lân cận và đề xuất các phương pháp quản lý, bảo vệ phù hợp. Bằng cách này, chúng ta có thể tạo ra các hướng dẫn rõ ràng và thực tiễn để thúc đẩy việc xây dựng hạ tầng giao thông đô thị một cách bền vững và hiệu quả.</p> 2024-05-04T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/683 Đánh giá khả năng tạo bãi và phục hồi rừng ngập mặn của tuyến kè giảm sóng tại bờ biển Tây tỉnh Cà Mau 2024-04-25T03:06:26+00:00 Duy Khánh Nguyễn contact@jomc.vn Duy Đinh dvduy19@gmail.com Văn Tỷ Trần contact@jomc.vn Khải Mẫn Trương contact@jomc.vn Thị Cẩm Hồng Huỳnh contact@jomc.vn Văn Hừng Trần contact@jomc.vn Nhựt Tân Lê contact@jomc.vn <p>Nghiên cứu này được thực hiện nhằm quan trắc diễn biến diện tích rừng ngập mặn (RNM) và bãi biển phía trong tuyến kè giảm sóng hai hàng cọc ly tâm đổ đá dọc theo bờ biển Tây huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau. Phương pháp phân tích ảnh viễn thám và đo đạc tại hiện trường được thực hiện để đánh giá diễn biến diện tích RNM và độ xói/bồi bãi biển. Kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích RNM đã chuyển từ trạng thái suy giảm nghiêm trọng (7,67 ha/năm) sang trạng thái ổn định từ sau khi xây dựng tuyến kè (1,0 ha/năm). Bãi biển được bảo vệ bởi tuyến kè cũng đã bồi lên từ 3,5 cm đến 7,0 cm trong khoảng thời gian 01 tháng.</p> 2024-04-25T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/697 Áp dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo trong phân tích an toàn tài chính dự án đầu tư xây dựng 2024-05-07T10:27:07+00:00 Thị Thơ Bùi contact@jomc.vn Xuân Đức Lương contact@jomc.vn Đức Long Đỗ contact@jomc.vn Ánh Tuyết Lục contact@jomc.vn Trọng Việt Anh Nguyễn contact@jomc.vn Dung Nguyễn Thị Tuyết dungntt@hau.edu.vn <p>Dự án đầu tư xây dựng có thời gian xây dựng và vận hành dài, các kết quả và hiệu quả dự án phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mỗi yếu tố ở một mức độ khác nhau đều có mức không chắc chắn nhất định. Để đánh giá được độ an toàn của các kết quả tính toán trước sự biến đổi của các yếu tố khách quan, việc sử dụng phương pháp mô phỏng Mone Carlo cho kết quả tin cậy nhất. Bài báo áp dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo trong phân tích an toàn tài chính dự án đầu tư, nghiên cứu trường hợp dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị xã Nghi Phú và Hưng Lộc, thành phố Vinh, Nghệ An, giúp cho chủ đầu tư ước lượng chính xác hiệu quả cũng như đánh giá tốt hơn tính khả thi của dự án.</p> 2024-05-10T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng