Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn
<div class="description"> <p><strong>Tạp chí Vật liệu và Xây dựng </strong></p> <p>Tạp chí Vật liệu và Xây dựng là tạp chí khoa học của Viện Vật liệu xây dựng (VIBM), tiền thân là Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển Vật liệu xây dựng (ISSN1859-381X), được thành lập ngày 16/02/2011 theo Giấy phép số 175/GP-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông với số lượng xuất bản ban đầu là 04 số/năm, ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng Việt. Năm 2014, Bộ Thông tin và Truyển thông cho phép Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển VLXD tăng kỳ xuất bản và bổ sung ngôn ngữ tiếng Anh (Journal of Building Materials Research and Development – ISSN1859-381X) theo Giấy phép số 221/GP-BTTTT ngày 17/07/2014.</p> <p>Với mục tiêu phát triển Tạp chí theo hướng mở rộng lĩnh vực, nội dung, tăng cường chất lượng và số lượng, hướng tới hội nhập quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển vật liệu xây dựng đã đề nghị và được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép (số 564/GP-BTTTT ngày 03/12/2020) đổi tên thành Tạp chí Vật liệu và Xây dựng – Journal of Materials and Construction. Tạp chí Vật liệu và Xây dựng là tạp chí khoa học có phản biện, đăng tải các bài báo khoa học thuộc lĩnh vực vật liệu xây dựng; cơ khí xây dựng; kiến trúc và qui hoạch; kinh tế và quản lý xây dựng; hạ tầng kỹ thuật và môi trường xây dựng,…</p> <p>Website chính thức của Tạp chí bằng tiếng Việt (ISSN1859-381X) và Tạp chí bằng tiếng Anh là (ISSN 2734-9438) tương ứng như sau:</p> <p><a href="https://jomc.vn/">https://jomc.vn/</a></p> <p><a href="https://jomc.vn/en/home/">http://jomc.vn/en</a></p> <p>Để xứng đáng với sự tin cậy của quý bạn đọc và đáp ứng yêu cầu chất lượng cao của Tạp chí, Ban Biên tập Tạp chí rất mong tiếp tục nhận được sự đồng hành, đóng góp nhiệt tình của các nhà khoa học, các chuyên gia, các đối tác trong và ngoài nước bằng cách đóng góp ý kiến, gửi bài đăng trên Tạp chí và đọc phản biện cho các bài báo gửi đến Tạp chí.</p> <p>Xin trân trọng cảm ơn!</p> </div>VIỆN VẬT LIỆU XÂY DỰNGvi-VNTạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng1859-381XThực trạng quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng tại thành phố Hà Nội
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1410
<p>Bài viết phân tích thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng tại thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và yêu cầu phát triển đô thị bền vững. Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp và thống kê mô tả, bài viết làm rõ các nội dung chủ yếu của công tác quản lý, gồm hệ thống văn bản, chính sách; tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý; quản lý quy hoạch, cấp phép xây dựng, kiểm tra giám sát; quản lý chất lượng công trình, môi trường xây dựng, hạ tầng kỹ thuật và ứng dụng công nghệ số. Kết quả nghiên cứu cho thấy Hà Nội đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn hạn chế về tính đồng bộ của quy hoạch, năng lực thực thi ở cơ sở, kiểm soát vi phạm, quản lý dữ liệu và phối hợp liên ngành. Trên cơ sở đó, bài viết đã đề xuất một số định hướng hoàn thiện quản lý xây dựng tại Hà Nội trong thời gian tới góp phần phát triển đô thị bền vững.</p>Hà Anh TuấnNguyễn Ngọc PhươngĐinh Tuấn Hải
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-07-082026-07-08160610.54772/jomc.06.2026.1410Tác động của các khu, cụm công nghiệp đến phát triển hạ tầng và đô thị hóa ngoại thành phía đông Hải Phòng
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1456
<p>Bài viết phân tích tác động của các khu, cụm công nghiệp đến phát triển hạ tầng và đô thị hóa ngoại thành phía Đông Hải Phòng trên bốn phương diện: kinh tế, việc làm và dân cư; sử dụng đất và mở rộng không gian đô thị; kết cấu hạ tầng và dịch vụ đô thị; môi trường và cảnh quan. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu, thống kê mô tả, so sánh và phân tích không gian trên cơ sở các văn bản quy hoạch, niên giám thống kê và báo cáo quản lý nhà nước. Kết quả cho thấy các khu, cụm công nghiệp đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng việc làm phi nông nghiệp, thu hút lao động, gia tăng nhu cầu nhà ở và dịch vụ, đồng thời tạo động lực phát triển hệ thống giao thông, logistics, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Tuy nhiên, quá trình này cũng làm gia tăng áp lực chuyển đổi đất, gây quá tải cục bộ hạ tầng xã hội, phát sinh ô nhiễm và biến đổi cảnh quan ven đô. Bài viết khẳng định yêu cầu gắn phát triển công nghiệp với quy hoạch đô thị, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, sử dụng đất hợp lý và bảo vệ môi trường.</p>Trần Anh ToánPhạm Văn BộĐinh Tuấn Hải
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-08-242026-08-24160610.54772/jomc.06.2026.1456Đánh giá hiệu quả giảm sóng của kè Busadco sử dụng vách ngăn bằng tấm vật liệu bèo tây
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1437
<p>Xói lở bờ biển đang diễn ra nghiêm trọng tại Đồng bằng sông Cửu Long, đòi hỏi các giải pháp bảo vệ bờ vừa hiệu quả vừa thân thiện với môi trường. Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả giảm sóng của cấu kiện kè Busadco khi sử dụng vách ngăn bằng tấm vật liệu bèo tây (<em>Eichhornia crassipes</em>) đan thủ công, thay cho tấm vách bê tông cốt thép trong thiết kế nguyên bản. Thí nghiệm mô hình vật lý được thực hiện trong máng sóng với sáu kịch bản, hình thành từ ba mực nước (35, 40 và 45 cm) và hai cấu hình cấu kiện (không có vách ngăn và có vách ngăn bèo tây). Mỗi kịch bản được vận hành liên tục trong 10 phút; dao động mực nước được ghi nhận bằng hai cảm biến áp suất Solinst Levelogger đặt cách tâm cấu kiện 0,5 m về phía trước và phía sau. Chiều cao sóng có nghĩa <em>H₁/₃</em> được trích xuất bằng phương pháp cắt mức không theo chiều đi lên (zero up-crossing), từ đó xác định hệ số giảm chiều cao sóng <em>K<sub>t</sub></em> và hiệu quả giảm sóng E. Kết quả cho thấy cấu kiện kè Busadco đạt hiệu quả giảm sóng 49,4-74,2% ở cấu hình không có vách ngăn, và tăng lên 60,6-81,3% khi lắp tấm vách bèo tây. Mức cải thiện đạt được ở cả ba mực nước, không có ngoại lệ, với <em>ΔE</em> lần lượt là +11,2; +4,9 và +7,1 điểm phần trăm, trung bình khoảng +7,7 điểm phần trăm. Tại mực nước 45 cm, tỷ lệ số dao động sóng được nhận diện phía sau so với phía trước giảm từ 58% xuống 34%. Kết quả bước đầu khẳng định tính khả thi về mặt thủy động lực của giải pháp, đồng thời mở ra hướng tận dụng một loài thủy sinh xâm lấn làm vật liệu bảo vệ bờ chi phí thấp. Tuy nhiên, độ bền của tấm bèo tây cần được kiểm chứng qua thí nghiệm dài hạn trong môi trường nước biển trước khi ứng dụng ngoài thực tế.</p>Đinh Văn DuyNguyễn Thanh TiềnNguyễn Thị Thảo LinhTrần Minh TuấnBùi Vũ Ngọc
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-07-212026-07-21160610.54772/jomc.06.2026.1437Vườn mưa (Rain Garden) và hệ thống lát gạch bê tông tự chèn thấm nước (PICP): Giải pháp hạ tầng xanh cho quản lý nước mưa đô thị bền vững
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1392
<p>Quá trình đô thị hóa nhanh chóng tại Việt Nam và nhiều quốc gia đang phát triển đã làm gia tăng tỷ lệ bề mặt không thấm nước như bê tông và nhựa asphalt, dẫn đến nhiều hệ lụy về môi trường và hạ tầng thoát nước đô thị. Các hiện tượng ngập úng cục bộ, suy giảm chất lượng nước mặt, gia tăng hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và quá tải hệ thống thoát nước đang trở thành thách thức lớn trong bối cảnh biến đổi khí hậu và mưa cực đoan ngày càng gia tăng. Bài báo tập trung phân tích hai giải pháp hạ tầng xanh tiêu biểu gồm Vườn mưa (Rain Garden) và Hệ thống lát gạch bê tông tự chèn thấm nước (Permeable Interlocking Concrete Pavement – PICP). Nội dung nghiên cứu trình bày nguyên lý hoạt động, cấu tạo kỹ thuật, hiệu quả kiểm soát dòng chảy mặt, khả năng cải thiện chất lượng nước, giá trị sinh thái và tiềm năng ứng dụng trong đô thị Việt Nam. Kết quả tổng hợp cho thấy hai giải pháp này không chỉ góp phần giảm lưu lượng dòng chảy đỉnh, tăng khả năng thấm và bổ cập nước ngầm mà còn nâng cao chất lượng cảnh quan và khả năng thích ứng khí hậu của đô thị. Bài báo đề xuất định hướng tích hợp Rain Garden và PICP vào quy hoạch đô thị, giao thông và hệ thống thoát nước bền vững tại Việt Nam.</p>Lê Thị Mai Hương
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-08-112026-08-11160610.54772/jomc.06.2026.1392Tác động của công nghệ vật liệu xây dựng mới đến phát triển đô thị bền vững: Thực trạng và giải pháp
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1453
<p>Quá trình đô thị hóa nhanh chóng và những thách thức môi trường ngày càng gia tăng đòi hỏi ngành xây dựng phải áp dụng các giải pháp đổi mới và bền vững. Các công nghệ vật liệu xây dựng mới, bao gồm bê tông xanh, vật liệu tái chế, vật liệu tự phục hồi, vật liệu thông minh và vật liệu cách nhiệt hiệu suất cao, đã đóng góp đáng kể vào phát triển đô thị bền vững thông qua việc giảm thiểu tác động đến môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và tăng cường khả năng chống chịu của cơ sở hạ tầng. Nghiên cứu này phân tích thực trạng ứng dụng các vật liệu xây dựng mới tại Việt Nam, đánh giá tác động của chúng đối với phát triển đô thị bền vững và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy việc triển khai rộng rãi hơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy các vật liệu xây dựng tiên tiến không chỉ giúp giảm phát thải carbon và mức tiêu thụ năng lượng mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sống đô thị. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung chính sách, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao nhận thức của các bên liên quan hướng tới mục tiêu phát triển đô thị bền vững.</p>Lê Hồng Dương
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-08-172026-08-17160610.54772/jomc.06.2026.1453Ảnh hưởng của sợi ngắn dẫn điện đến độ chảy, đặc trưng cơ học và độ dẫn điện của bê tông cường độ siêu cao
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1430
<p>Bê tông tính năng siêu cao (UHPC) ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong các kết cấu đòi hỏi độ bền và khả năng chịu tải cao nhờ cường độ cơ học vượt trội, độ bền lâu dài và cấu trúc vi mô đặc chắc. Việc bổ sung sợi dẫn điện ngắn vào UHPC có tiềm năng cải thiện đồng thời tính dẫn điện và khả năng tự cảm biến (self-sensing) của vật liệu, phục vụ giám sát sức khỏe kết cấu (SHM). Nghiên cứu này khảo sát ảnh hưởng của sợi thép và sợi cacbon (hàm lượng 0,5% thể tích) đến độ chảy xòe, cường độ chịu nén, cường độ chịu uốn và độ dẫn điện của UHPC. Kết quả cho thấy thêm sợi thép và sợi cacbon làm giảm độ chảy xòe của hỗn hợp UHPC do gia tăng ma sát nội bộ và tương tác sợi–vữa. Về đặc trưng cơ học, sợi thép cải thiện đáng kể cường độ chịu uốn nhờ hiệu ứng bắc cầu vết nứt nhưng ít ảnh hưởng đến cường độ chịu nén; ngược lại, sợi cacbon làm giảm cả cường độ chịu nén lẫn cường độ chịu uốn của UHPC. Cả hai loại sợi đều cải thiện đáng kể độ dẫn điện của UHPC, trong đó sợi cacbon cho hiệu quả vượt trội hơn nhờ đường kính nhỏ và tỷ lệ mảnh lớn, thuận lợi cho sự hình thành mạng lưới dẫn điện thông qua các cơ chế kết nối trực tiếp, dẫn điện xuyên hầm và dẫn điện ion. Những kết quả này cho thấy rõ mối quan hệ giữa hiệu quả gia cường cơ học và hiệu quả tạo mạng lưới dẫn điện của hai loại sợi, đồng thời khẳng định tiềm năng ứng dụng của UHPC gia cường sợi cacbon và sợi thép trong các hệ thống tự cảm biến và giám sát sức khỏe kết cấu công trình.</p>Nguyễn LinhNgô Trung HiếuLê Huy Việt
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-07-272026-07-27160610.54772/jomc.06.2026.1430Mô hình giải tích dự báo khả năng chịu lực của cột mảnh bê tông cốt thép gia cường bằng CFRP chịu nén lệch tâm
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1382
<p>Nghiên cứu này phát triển một mô hình giải tích tổng quát nhằm dự báo tải trọng cực hạn của cột mảnh BTCT gia cường vải sợi các bon CFRP chịu nén lệch tâm phẳng và lệch tâm xiên trong hệ khung giằng, có xét đến hiệu ứng bậc hai của cấu kiện (<em>P-δ)</em>. Mô hình được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết của phương pháp khuếch đại mô men theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ ACI 318-25, có xét đồng thời phi tuyến vật liệu và phi tuyến hình học thông qua quy trình phân tích lặp để xác định trạng thái cân bằng của cấu kiện. Mô hình được kiểm chứng với dữ liệu thực nghiệm của các nghiên cứu khác cho thấy có độ tin cậy cao. Khảo sát tham số được thực hiện trên các cột của khung giằng có tỷ số độ mảnh <em>l<sub>r</sub></em> = 30, <em>l<sub>r</sub></em> = 50 và <em>l<sub>r</sub></em> = 70 dưới tải nén lệch tâm xiên đối xứng theo hai phương (<em>e<sub>x</sub></em> = <em>e<sub>y</sub></em>) với các giá trị độ lệch tâm 30 mm, 60 mm và 90 mm. Kết quả cho thấy, khả năng chịu lực của cột chịu ảnh đồng thời bởi độ lệch tâm và độ mảnh của cấu kiện. Trong phạm vi dải độ mảnh khảo sát, khi độ lệch tâm tăng từ 30 mm lên 90 mm, tải trọng cực hạn giảm khoảng 56,9 - 59,9 % đối với cấu hình gia cường kết hợp CFRP dọc và CFRP ngang, và 62,3 - 67,1% đối với cấu hình chỉ gia cường CFRP ngang. Việc bổ sung CFRP dọc giúp cải thiện khả năng chịu lực, với mức gia tăng lên tới 30,3 % tại <em>e<sub>x</sub></em> = <em>e<sub>y</sub></em> = 90 mm.</p>Lê Phước LànhNguyễn Trường ThắngNguyễn Trung Hiếu
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-07-062026-07-06160610.54772/jomc.06.2026.1382Nghiên cứu ảnh hưởng của nước biển Trường Sa đến độ ổn định và độ dẻo Marshall của Carboncor Asphalt theo thời gian bằng phương pháp quy hoạch thực nghiệm
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1451
<p>Carboncor Asphalt (CA) là vật liệu hỗn hợp nguội trên cơ sở nhũ tương bitum cải tiến kết hợp phụ gia gốc carbon, có ưu điểm thi công nguội, phù hợp với điều kiện hậu cần xa đất liền, là một lựa chọn tiềm năng cho mặt đường khu vực biển đảo Việt Nam. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của nước biển Trường Sa đến độ ổn định và độ dẻo Marshall của vật liệu CA 9,5 theo thời gian ngâm mẫu đến 360 ngày. Thí nghiệm được quy hoạch theo phương pháp thiết kế thực nghiệm toàn phần (2 điều kiện chế bị – thí nghiệm × 6 mốc thời gian × 3 mẫu), phân tích phương sai và hồi quy ở độ tin cậy 95%. Kết quả cho thấy độ ổn định Marshall suy giảm có ý nghĩa thống kê theo thời gian ngâm với tốc độ trung bình 0,01045 kN/ngày ở cả hai điều kiện; sau 12 tháng, mẫu thí nghiệm ở 60 °C còn giữ 59%, mẫu thí nghiệm ở 25 °C còn giữ 71,5% độ ổn định ban đầu, cao hơn rõ rệt so với mức 21–26% của bê tông nhựa chặt trong nghiên cứu tương tự. Đối chiếu với TCCS 09:2024/CĐBVN, độ ổn định ở điều kiện I duy trì trên ngưỡng 7,0 kN đến khoảng 10,5 tháng, trong khi ở điều kiện II vượt xa ngưỡng 2,2 kN trong suốt 12 tháng. Bài báo phân tích bản chất của quá trình suy giảm, vai trò của nhũ tương đặc biệt trong việc duy trì cường độ và kiến nghị khả năng sử dụng vật liệu CA cho công trình đường khu vực biển đảo.</p>Nguyễn Quang PhúcNguyễn Văn TườngNguyễn Văn HiếuTrần Thị Cẩm HàTrần Danh Hợi
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-08-072026-08-07160610.54772/jomc.06.2026.1451Khoảng cách giữa ý định và hành vi tham gia đấu thầu của nhà thầu thi công xây dựng công trình thủy lợi tại Việt Nam
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1425
<p>Bài báo phân tích khoảng cách giữa ý định và hành vi tham gia đấu thầu của nhà thầu thi công xây dựng công trình thủy lợi tại Việt Nam. Khác với các nghiên cứu tập trung nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định dự thầu, bài báo này làm rõ vì sao ý định tham gia không phải lúc nào cũng chuyển hóa thành hành vi nộp hồ sơ dự thầu. Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát định lượng và mô hình cấu trúc tuyến tính, trong đó trọng tâm phân tích là quan hệ giữa kiểm soát hành vi nhận thức, ý định tham gia và hành vi tham gia đấu thầu. Kết quả cho thấy ý định tham gia có tác động mạnh đến hành vi tham gia đấu thầu với β = 0,680. Kiểm soát hành vi nhận thức có tác động mạnh đến ý định tham gia với β = 0,424, có tác động trực tiếp đến hành vi với β = 0,128, đồng thời có tác động gián tiếp đến hành vi thông qua ý định với hệ số 0,305. Kết quả kiểm định bootstrap cho thấy tác động gián tiếp này có ý nghĩa thống kê, với khoảng tin cậy 95% [0,217; 0,420]. Tổng tác động của kiểm soát hành vi nhận thức đến hành vi tham gia đạt 0,433, cho thấy đây là cơ chế quan trọng giúp thu hẹp khoảng cách giữa “muốn tham gia” và “thực sự tham gia”. Bài báo đề xuất các hàm ý quản trị nhằm giúp nhà thầu tăng khả năng chuyển hóa ý định dự thầu thành hành vi tham gia.</p>Phùng Duy Hảo
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-07-142026-07-14160610.54772/jomc.06.2026.1425Đánh giá tác động của tổ chức không gian thi công đến rủi ro dự án xây dựng thông qua ứng dụng mô hình BIM 4D
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1442
<p>Tổ chức không gian thi công là một yếu tố then chốt quyết định đến sự thành công của dự án xây dựng. Tuy nhiên, phương pháp lập tiến độ truyền thống thường thiếu sự liên kết giữa thời gian và không gian thực tế, dẫn đến các xung đột vị trí và rủi ro tiềm ẩn. Bài báo này nghiên cứu việc ứng dụng mô hình Thông tin công trình 4D (BIM 4D) để trực quan hóa quá trình thi công và đánh giá tác động của việc sắp xếp không gian đến rủi ro dự án qua 4 giai đoạn nghiên cứu. Thông qua thực nghiệm tại dự án Lotte Mall West Lake, kết quả khẳng định BIM 4D giúp nhận diện sớm các xung đột không gian - thời gian, tối ưu hóa 15% thời gian di chuyển vật tư và giảm thiểu đáng kể chỉ số rủi ro an toàn (SRI) so với phương pháp truyền thống.</p>Đỗ Xuân Trường
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-08-102026-08-10160610.54772/jomc.06.2026.1442Liên kết Đại học - Doanh nghiệp trong phát triển nhân lực chất lượng cao tại Hà Nội thời kỳ chuyển đổi số
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1413
<p>Nguồn nhân lực chất lượng cao quyết định năng lực cạnh tranh trong Cách mạng công nghiệp 4.0, song khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp tại Việt Nam là thách thức lớn đối với giáo dục đại học. Hà Nội, với mật độ trường đại học và doanh nghiệp cao nhất cả nước, là địa bàn nghiên cứu liên kết đào tạo nhân lực. Phân tích tài liệu và chính sách xác định ba điểm nghẽn: hợp tác mang tính phong trào, thiếu chiến lược dài hạn; doanh nghiệp nhỏ và vừa (trên 95%) có năng lực hấp thụ và nguồn lực hạn chế; chính quyền địa phương chưa đóng vai trò kiến tạo mạnh mẽ. Trên cơ sở tự chủ đại học, chuyển đổi số và kinh nghiệm thành công, bài báo đề xuất bốn nhóm giải pháp đồng bộ: hoàn thiện thể chế; đổi mới đánh giá cán bộ và chuyên nghiệp hóa thiết chế trung gian; nâng cao năng lực hấp thụ và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp; phát huy vai trò kiến tạo của chính quyền qua nền tảng kết nối số và quỹ KHCN. Tăng cường liên kết đại học-doanh nghiệp là chiến lược cốt lõi nâng cao chất lượng nhân lực Thủ đô trong kỷ nguyên số.</p>Nguyễn Văn ĐồngLê Trần PhongPhan Thị Thanh HuyềnHoàng Thị Sinh ViênNguyễn Quốc Toản
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-07-012026-07-01160610.54772/jomc.06.2026.1413Đánh giá tiềm năng lý thuyết điện mặt trời và khả năng đáp ứng nhu cầu bổ sung nguồn điện tỉnh Hà Nam đến năm 2030
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1459
<p>Trước yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo theo Quy hoạch điện VIII, việc đánh giá tiềm năng điện mặt trời phục vụ quy hoạch nguồn điện địa phương có ý nghĩa quan trọng. Nghiên cứu này đánh giá tiềm năng lý thuyết điện mặt trời và khả năng đáp ứng nhu cầu bổ sung nguồn điện của tỉnh Hà Nam (cũ) đến năm 2030 trên cơ sở tích hợp dữ liệu bức xạ mặt trời từ Global Solar Atlas với số liệu diện tích tự nhiên và các giả thiết tính toán về hệ thống điện mặt trời. Kết quả cho thấy giá trị bức xạ mặt trời trung bình (GHI) của tỉnh đạt 1.359,4 kWh/m²/năm và sản lượng điện riêng của hệ thống quang điện (PVOUT) đạt 1.209,4 kWh/kWp/năm, phản ánh điều kiện bức xạ tương đối thuận lợi và phân bố khá đồng đều trên toàn tỉnh. Tiềm năng lý thuyết điện mặt trời được xác định tương ứng với công suất lắp đặt khoảng 71.827,5 MWp và sản lượng điện khoảng 86.884,5 GWh/năm. So sánh với nhu cầu bổ sung nguồn điện đến năm 2030 cho thấy nguồn điện mặt trời có khả năng đáp ứng khoảng 126.000% nhu cầu theo kịch bản nghiên cứu, khẳng định vai trò quan trọng của nguồn năng lượng này trong chiến lược phát triển điện lực của địa phương. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo và có thể tham khảo cho các địa phương có điều kiện tự nhiên tương đồng.</p>Trịnh Công TýPhạm Chí ThànhNguyễn Đức Hạnh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-08-242026-08-24160610.54772/jomc.06.2026.1459Ảnh hưởng của tổ chức kết cấu theo đơn nguyên trong công nghệ đập Trụ đỡ đến nguy cơ nứt nhiệt của bê tông khối lớn
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1438
<p>Công nghệ đập Trụ đỡ là công nghệ xây dựng cống vùng triều quy mô lớn do Việt Nam nghiên cứu và phát triển, có ưu điểm về điều kiện thi công, khả năng vượt khẩu độ lớn và hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, các cấu kiện chính như bệ trụ và trụ pin đều thuộc nhóm bê tông khối lớn, nên vẫn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh ứng suất nhiệt và nứt nhiệt ở tuổi sớm. Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu về bê tông khối lớn và phân tích nguyên lý tổ chức kết cấu của công nghệ, bài báo làm rõ ảnh hưởng của phương thức tổ chức kết cấu theo các đơn nguyên độc lập đến điều kiện ràng buộc biến dạng của bê tông. Kết quả cho thấy, mặc dù không làm thay đổi quá trình thủy hóa, phương thức tổ chức này có thể làm giảm mức độ ràng buộc biến dạng, qua đó góp phần hạn chế nguy cơ nứt nhiệt ở bê tông tuổi sớm. Nghiên cứu bổ sung cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa tổ chức kết cấu và ứng suất nhiệt của bê tông khối lớn, đồng thời gợi mở hướng nghiên cứu định lượng bằng mô phỏng số và quan trắc thực tế.</p>Thái Quốc HiềnMai Sỹ Hùng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-07-302026-07-30160610.54772/jomc.06.2026.1438Tổng quan về bê tông siêu tính năng (UHPC) và ứng dụng trong kết cấu chịu tải trọng nổ
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1400
<p>Trước yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ công trình trước các tác động nổ và xung kích, bê tông siêu tính năng (Ultra High Performance Concrete - UHPC) được xem là một vật liệu đầy triển vọng nhờ cường độ vượt trội và độ bền cao. Nghiên cứu này trình bày tổng quan về ứng xử của UHPC dưới tải trọng nổ, bao gồm cơ chế truyền sóng nổ, các dạng phá hoại đặc trưng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng kháng nổ của UHPC. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và mô phỏng số trên thế giới và trong nước được phân tích nhằm làm rõ ưu thế của UHPC so với bê tông thường trong điều kiện gia tải tốc độ cao. Bên cạnh đó, bài báo đánh giá thực trạng nghiên cứu trong nước, chỉ ra những hạn chế về cơ sở thực nghiệm, mô hình vật liệu, tiêu chuẩn thiết kế và năng lực sản xuất. Trên cơ sở đó, một số định hướng phát triển trong tương lai được đề xuất, bao gồm hoàn thiện mô hình vật liệu động, tối ưu hóa cấp phối ở cấp độ vi mô và ứng dụng các phương pháp mô phỏng số, học máy trong thiết kế kháng nổ. Kết quả tổng quan góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển và ứng dụng UHPC trong các công trình yêu cầu mức độ an toàn cao trước tác động nổ tại Việt Nam.</p>Lê Hoàng LongNguyễn Văn TúMai Viết Chinh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-08-052026-08-05160610.54772/jomc.06.2026.1400Nghiên cứu khả năng bảo vệ, chống ăn mòn cốt thép trong bê tông polystyrene
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1455
<p>Trong một số trường hợp, ứng dụng bê tông nhẹ polystyrene (EPS) trong kết cấu bê tông cốt thép chịu tác động của môi trường biển có nguy cơ xảy ra ăn mòn cốt thép làm giảm tuổi thọ công trình. Để đánh giá khả năng bảo vệ cốt thép, nghiên cứu được thực hiện trong phòng thí nghiệm, sử dụng phương pháp gia tốc ăn mòn. Kết quả cho thấy khả năng bảo vệ cốt thép của bê tông polystyrene phụ thuộc vào khối lượng thể tích và tăng lên khi khối lượng thể tích của bê tông tăng.</p>Phan Văn ChươngLê Nho Thiện
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-08-242026-08-24160610.54772/jomc.06.2026.1455Vai trò của chuyên gia kinh tế xây dựng trong quản lý phương án thiết kế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1432
<p>Trong dự án đầu tư xây dựng, phương án thiết kế không chỉ là sản phẩm kỹ thuật mà còn là cơ sở hình thành cấu trúc chi phí, suất vốn đầu tư, chi phí vòng đời và hiệu quả sử dụng vốn. Tuy nhiên, trong nhiều dự án, chuyên gia kinh tế xây dựng thường được huy động muộn, chủ yếu ở giai đoạn lập hoặc kiểm tra dự toán, làm giảm khả năng kiểm soát chi phí từ gốc. Bài báo sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp tổng quan tài liệu, phân tích khung pháp lý và tổng hợp lý luận thực hành nhằm làm rõ vai trò của chuyên gia kinh tế xây dựng trong quản lý phương án thiết kế công trình. Kết quả nghiên cứu cho thấy chuyên gia kinh tế xây dựng cần tham gia sớm và xuyên suốt vào quá trình phát triển thiết kế thông qua lập ngân sách thiết kế mục tiêu, kiểm soát chi phí, so sánh phương án, quản lý giá trị, đánh giá chi phí vòng đời, kiểm soát thay đổi và quản trị dữ liệu BIM 5D. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất mô hình khung quản lý phương án thiết kế theo tiếp cận kinh tế xây dựng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, đặc biệt đối với các dự án có giới hạn ngân sách và dự án sử dụng vốn đầu tư công.</p>Hoàng Vân GiangTô Thị Hương QuỳnhLê Văn TuấnNguyễn Quốc Toản
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-07-212026-07-21160610.54772/jomc.06.2026.1432Nghiên cứu tác động kinh tế của chuyển đổi số trong quản lý và khai thác máy xây dựng: Đề xuất khung chiến lược cho nhà thầu xây dựng Việt Nam
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1386
<p>Chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh của ngành xây dựng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0. Bài báo tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và đánh giá tác động kinh tế của chuyển đổi số trong quản lý, khai thác máy xây dựng tại Việt Nam. Thông qua phương pháp tổng hợp tài liệu hệ thống theo chuẩn PRISMA (n = 20 nghiên cứu được tuyển chọn từ 152 tài liệu ban đầu) kết hợp với khung phân tích TOE và mô hình trưởng thành số, bài báo đề xuất khung chiến lược VN-CEM (Vietnam - Construction Equipment Management) gồm ba cấp độ phát triển. Bài báo xác định rõ đóng góp mới bao gồm: (i) bộ chỉ tiêu đánh giá tác động kinh tế bốn nhóm được hiệu chỉnh theo điều kiện Việt Nam; (ii) bộ câu hỏi khảo sát sơ cấp gồm 28 tiêu chí đề xuất để kiểm chứng thực nghiệm tại nhà thầu trong nước; và (iii) lộ trình VN-CEM ba cấp độ với KPI cụ thể. Kết quả tổng hợp tài liệu quốc tế cho thấy việc ứng dụng BIM, IIIoT, Digital Twin và phân tích dữ liệu lớn có khả năng tăng năng suất lao động khoảng 14-15%, giảm chi phí sản xuất khoảng 4-6%. Ngoài ra, bốn nhóm rào cản chính được xác định gồm: chính sách, tài chính, kỹ thuật - nhân lực và công nghệ - dữ liệu.</p>Bùi Thị Ngọc LanLê Công ThànhNguyễn Xuân Chiến
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-07-202026-07-20160610.54772/jomc.06.2026.1386Quản lý chi phí vật liệu xây dựng trong dự án đường bộ cao tốc tại Việt Nam: Các yếu tố ảnh hưởng và hàm ý chính sách
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1452
<p>Chi phí vật liệu xây dựng là thành phần chiếm tỉ trọng lớn, nhạy cảm với thị trường và có ảnh hưởng trực tiếp đến tổng mức đầu tư, dự toán, giá gói thầu, thanh toán và quyết toán các dự án đường bộ cao tốc. Trong bối cảnh Việt Nam triển khai đồng thời nhiều tuyến cao tốc trên phạm vi cả nước, quản lý chi phí vật liệu không còn là bài toán xác định đơn giá tại một thời điểm mà trở thành vấn đề quản trị hệ thống, liên quan đến khung pháp luật, nguồn cung, chuỗi cung ứng, dữ liệu giá, hợp đồng, năng lực chủ thể và điều kiện thực hiện dự án. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, phân tích - tổng hợp và so sánh trên cơ sở văn bản pháp luật, tài liệu chuyên ngành và các nghiên cứu trong nước, quốc tế. Kết quả nhận diện chín nhóm yếu tố ảnh hưởng: (1) chính sách, pháp luật và phân cấp quản lý; (2) thị trường và kinh tế vĩ mô; (3) nguồn cung, mỏ vật liệu và logistics; (4) dữ liệu, công bố giá và chỉ số giá; (5) định mức, khảo sát, thiết kế; (6) hợp đồng, dự phòng và phân bổ rủi ro; (7) năng lực và hành vi của các chủ thể; (8) điều kiện tự nhiên, địa chất, môi trường; (9) công nghệ số và khả năng dự báo. Bài báo đề xuất hoàn thiện cơ chế trách nhiệm, chuẩn hóa khảo sát và công bố giá, xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông, quản lý nguồn vật liệu theo hành lang dự án, áp dụng quản trị rủi ro định lượng và tăng cường hậu kiểm dựa trên dữ liệu thực tế.</p>Nguyễn Tiến BùiNguyễn Xuân ChiếnVũ Ngọc PhươngNguyễn Thị Tuyết DungLê Việt Hòa
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-08-052026-08-05160610.54772/jomc.06.2026.1452Năng lực hệ thống của doanh nghiệp tư vấn quản lý dự án và nguy cơ lãng phí trong thực hiện dự án đầu tư xây dựng: Nghiên cứu trường hợp CCU
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1428
<p>Bài báo phân tích năng lực hệ thống của doanh nghiệp tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng dưới góc nhìn phòng ngừa nguy cơ lãng phí trong thực hiện dự án. Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu trường hợp đơn, lựa chọn Công ty TNHH Tư vấn Đại học Xây dựng (CCU) - một doanh nghiệp tư vấn có đặc thù gắn với cơ sở giáo dục đại học nhưng vận hành theo cơ chế thị trường. Dữ liệu gồm hồ sơ doanh nghiệp, số liệu tài chính 2021-2025, danh mục dự án tư vấn quản lý dự án, tài liệu quy trình nội bộ, bộ dữ liệu 09 dự án điển hình và hai khảo sát thang đo 3 mức về nhân sự chủ chốt (n = 14) và mức độ áp dụng quy trình tại dự án (n = 15). Kết quả cho thấy trong số 14 nhân sự khảo sát có 11 người được xếp nhóm đáp ứng đầy đủ yêu cầu năng lực; trong khi đó, trong số 15 dự án khảo sát có 7 dự án được xếp nhóm áp dụng đầy đủ quy trình nội bộ. Do hai chỉ báo thuộc hai đơn vị phân tích khác nhau, bài báo không so sánh trực tiếp chúng mà diễn giải như hai bức tranh mô tả song song. Kết quả gợi ý rằng điểm nghẽn đáng chú ý không chỉ nằm ở năng lực cá nhân mà còn ở mức độ chuẩn hóa quy trình, quản lý dữ liệu, kiểm soát hồ sơ và chuyển hóa tri thức chuyên gia thành năng lực hệ thống. Nghiên cứu có tính thăm dò, không đo lường trực tiếp lãng phí và không kiểm định quan hệ nhân quả. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất các ưu tiên quản trị nhằm nâng hiệu lực quy trình lõi, số hóa có chọn lọc và quản lý tri thức sau dự án.</p>Lê Văn Tuấn
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-07-152026-07-15160610.54772/jomc.06.2026.1428Xây dựng và triển khai tiêu chuẩn BIM cấp doanh nghiệp trong môi trường Autodesk Revit: Nghiên cứu trường hợp Vingroup
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1446
<p>Trong bối cảnh chuyển đổi số ngành xây dựng tại Việt Nam diễn ra mạnh mẽ nhưng thiếu sự chuẩn hóa đồng bộ. Do đó, xây dựng tiêu chuẩn Mô hình thông tin công trình (BIM) cấp doanh nghiệp trở nên cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và năng lực cạnh tranh. Bài báo này tập trung nghiên cứu quá trình xây dựng và triển khai tiêu chuẩn BIM trong môi trường Autodesk Revit thông qua nghiên cứu trường hợp tại Vingroup. Việc áp dụng tiêu chuẩn BIM giúp tăng cường tính nhất quán dữ liệu, nâng cao hiệu quả phối hợp đa bên và giảm thiểu rủi ro trong các giai đoạn thiết kế - thi công, cũng như các thách thức về nguồn lực, năng lực nhân sự và thay đổi quy trình quản lý, góp phần bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng tiêu chuẩn BIM tại các doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam.</p>Lê Minh Thoa
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-07-302026-07-30160610.54772/jomc.06.2026.1446Phân tích tác động của điều kiện công nghệ, tổ chức và môi trường đến quyết định tham gia đấu thầu thi công xây dựng công trình thủy lợi
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1422
<p>Bài báo phân tích tác động của điều kiện công nghệ, tổ chức và môi trường đến quyết định tham gia đấu thầu thi công xây dựng công trình thủy lợi tại Việt Nam trên cơ sở khung Công nghệ - Tổ chức - Môi trường (TOE). Dữ liệu được thu thập từ 352 phản hồi hợp lệ của các cá nhân có liên quan trực tiếp đến quyết định dự thầu. Nghiên cứu sử dụng kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố khẳng định và mô hình cấu trúc tuyến tính. Kết quả cho thấy mô hình TOE phù hợp với dữ liệu khảo sát, với CMIN/df = 1,424; GFI = 0,927; TLI = 0,968; CFI = 0,972 và RMSEA = 0,035. Điều kiện tổ chức có tác động mạnh nhất đến ý định tham gia, trong khi điều kiện công nghệ và điều kiện môi trường có mức tác động tích cực tương đương. Ý định tham gia tiếp tục tác động mạnh đến hành vi tham gia đấu thầu. Kết quả nghiên cứu cho thấy quyết định dự thầu phụ thuộc đồng thời vào mức độ sẵn sàng công nghệ, năng lực tổ chức và môi trường đấu thầu, qua đó gợi ý nhà thầu cần chuẩn hóa quy trình sàng lọc cơ hội thầu theo ba nhóm điều kiện TOE.</p>Phùng Duy Hảo
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-07-062026-07-06160610.54772/jomc.06.2026.1422Khả năng chịu cắt của cấu kiện bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn BS EN 1992-1-1
https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1441
<p>Kết cấu bê tông lắp ghép ngày càng phổ biến ở Việt Nam, tuy nhiên các tài liệu chỉ dẫn thiết kế chi tiết cho kết cấu này chưa nhiều. Trong đó tính toán chịu cắt của kết cấu bê tông là một dạng bài toán phức tạp, chưa có sự thống nhất trong các tiêu chuẩn thiết kế của các nước. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5574:2018 là tiêu chuẩn hiện hành cho thiết kế kết cấu bê tông dựa theo tiêu chuẩn của Liên bang Nga. Bộ Xây dựng đang chủ trì thực hiện hoàn thiện lại hệ thống tiêu chuẩn xây dựng, trong đó có Dự thảo ban hành tiêu chuẩn thiết kế kết cấu bê tông theo Châu Âu cụ thể là tiêu BS EN 1992-1-1. Đi theo định hướng mới này, bài báo tổng hợp các trường hợp phải tính toán chịu cắt cho kết cấu bê tông lắp ghép, trong đó các chỉ dẫn tính toán được dựa theo tiêu chuẩn BS EN 1992-1-1. Các thông tin này là tài liệu hữu ích cho các kỹ sư thiết kế kết cấu bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn Châu Âu.</p>Nguyễn Anh Dũng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng
2026-08-032026-08-03160610.54772/jomc.06.2026.1441