Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn <div class="description"> <p><strong>Tạp chí Vật liệu và Xây dựng </strong></p> <p>Tạp chí Vật liệu và Xây dựng là tạp chí khoa học của Viện Vật liệu xây dựng (VIBM), tiền thân là Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển Vật liệu xây dựng (ISSN1859-381X), được thành lập ngày 16/02/2011 theo Giấy phép số 175/GP-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông với số lượng xuất bản ban đầu là 04 số/năm, ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng Việt. Năm 2014, Bộ Thông tin và Truyển thông cho phép Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển VLXD tăng kỳ xuất bản và bổ sung ngôn ngữ tiếng Anh (Journal of Building Materials Research and Development – ISSN1859-381X) theo Giấy phép số 221/GP-BTTTT ngày 17/07/2014.</p> <p>Với mục tiêu phát triển Tạp chí theo hướng mở rộng lĩnh vực, nội dung, tăng cường chất lượng và số lượng, hướng tới hội nhập quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển vật liệu xây dựng đã đề nghị và được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép (số 564/GP-BTTTT ngày 03/12/2020) đổi tên thành Tạp chí Vật liệu và Xây dựng – Journal of Materials and Construction. Tạp chí Vật liệu và Xây dựng là tạp chí khoa học có phản biện, đăng tải các bài báo khoa học thuộc lĩnh vực vật liệu xây dựng; cơ khí xây dựng; kiến trúc và qui hoạch; kinh tế và quản lý xây dựng; hạ tầng kỹ thuật và môi trường xây dựng,…</p> <p>Website chính thức của Tạp chí bằng tiếng Việt (ISSN1859-381X) và Tạp chí bằng tiếng Anh là (ISSN 2734-9438) tương ứng như sau:</p> <p><a href="https://jomc.vn/">https://jomc.vn/</a></p> <p><a href="https://jomc.vn/en/home/">http://jomc.vn/en</a></p> <p>Để xứng đáng với sự tin cậy của quý bạn đọc và đáp ứng yêu cầu chất lượng cao của Tạp chí, Ban Biên tập Tạp chí rất mong tiếp tục nhận được sự đồng hành, đóng góp nhiệt tình của các nhà khoa học, các chuyên gia, các đối tác trong và ngoài nước bằng cách đóng góp ý kiến, gửi bài đăng trên Tạp chí và đọc phản biện cho các bài báo gửi đến Tạp chí.</p> <p>Xin trân trọng cảm ơn!</p> </div> vi-VN contact@jomc.vn (Tạp chí Vật liệu & Xây dựng) contact@jomc.vn (Tạp chí Vật liệu & Xây dựng) Sat, 28 Feb 2026 00:00:00 +0000 OJS 3.3.0.9 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Nghiên cứu cường độ chịu nén của vữa và bê tông sử dụng cốt liệu vỏ hàu thay thế cát sông https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1155 <p>Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng cốt liệu vỏ hàu nghiền thay thế một phần cát sông đến cường độ chịu nén của vữa và bê tông. Các mẫu vữa có tỷ lệ thay thế cát sông gồm 0%, 5%, 10%, 15%; mẫu bê tông chọn tỷ lệ tối ưu 15%. Kết quả cho thấy, đối với vữa, cường độ nén ở 28 ngày cao nhất tại tỷ lệ thay thế 15%. Đối với bê tông, mặc dù độ sụt giảm (~37,5%), nhưng cường độ nén ở 28 ngày vẫn tương đương với mẫu đối chứng. Sự ổn định về cường độ được xác định nhờ bề mặt nhám của vỏ hàu và thành phần CaCO₃ tham gia phản ứng hóa học. Nghiên cứu mở ra tiềm năng ứng dụng phế thải vỏ hàu trong sản xuất vật liệu xây dựng bền vững tại Việt Nam.</p> Lê Hoài Bão, Ngô Văn Thức, Võ Trung Kiên Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1155 Fri, 31 Oct 2025 00:00:00 +0000 Nghiên cứu rủi ro trong công tác sử dụng vật liệu khi thi công các dự án hạ tầng giao thông lớn tại Việt Nam https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1197 <p>Báo cáo này phân tích các nhóm rủi ro trọng yếu trong công tác huy động và sử dụng vật liệu khi triển khai các dự án hạ tầng giao thông quy mô lớn tại Việt Nam. Nhu cầu khối lượng vật liệu tăng nhanh trong bối cảnh nhiều tuyến cao tốc, đường ven biển và công trình trọng điểm được đồng thời triển khai đã làm gia tăng nguy cơ thiếu hụt nguồn cung, nhất là đối với đất đắp, cát xây dựng và đá các loại. Bên cạnh việc phụ thuộc vào các mỏ truyền thống, tiến độ cấp phép mới chậm và sự cạnh tranh giữa các dự án cũng khiến chuỗi cung ứng dễ bị gián đoạn. Chất lượng vật liệu không đồng đều, khai thác nhỏ lẻ và thiếu kiểm soát càng làm tăng nguy cơ phải xử lý kỹ thuật bổ sung, phát sinh chi phí và ảnh hưởng tiến độ. Hệ thống logistics cũng đối mặt nhiều áp lực khi vật liệu phải vận chuyển từ khoảng cách xa; hạ tầng hiện hữu tại công trường thường hẹp, yếu hoặc trộn lẫn giao thông dân sinh dẫn đến ùn tắc, kéo dài thời gian cung ứng và giảm hiệu quả điều phối phương tiện. Song song đó, khai thác vật liệu quy mô lớn còn gây rủi ro môi trường-xã hội, tác động đến canh tác nông nghiệp, bờ bãi ven biển, dòng chảy và hệ sinh thái nội địa. Cuối cùng, bất cập trong quy hoạch mỏ, thiếu liên thông dữ liệu cung-cầu và cơ chế điều phối vùng làm gia tăng tính bất định của thị trường. Việc nhận diện sớm và quản trị các rủi ro này là cơ sở để tối ưu hóa nguồn lực, đảm bảo tiến độ và nâng cao tính bền vững cho các dự án giao thông trọng điểm quốc gia.</p> Lê Khánh Linh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1197 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Giải pháp huy động vốn đầu tư bền vững cho hệ thống đê biển Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1181 <p>Trước bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, Việt Nam có khoảng 2/3 chiều dài hệ thống đê biển không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn để bảo vệ dân cư và hạ tầng khu vực ven biển. Trong khi đó, vốn ngân sách nhà nước không đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư cho hệ thống đê biển nên việc huy động các nguồn vốn đầu tư bền vững cho xây dựng, nâng cấp và bảo trì hệ thống này là rất cấp thiết. Bài báo tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, đồng thời nghiên cứu cơ sở pháp lý và tình hình thực tiễn tại Việt Nam nhằm đề xuất một số giải pháp huy động vốn đầu tư bền vững cho hệ thống đê biển thích ứng với biến đổi khí hậu. Các giải pháp cụ thể như sau: (i) Tối ưu hóa và đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư công; (ii) Thu hút và huy động nguồn vốn tư nhân; (iii) Tối đa hóa nguồn vốn quốc tế và hợp tác đa phương; (iv) Phát triển cơ chế tài chính sáng tạo và quản lý rủi ro; (v) Tăng cường năng lực thể chế và quản trị tài chính; và (vi) Tích hợp các giải pháp dựa vào thiên nhiên và phát triển bền vững. Thực hiện thành công các giải pháp này góp phần huy động nguồn vốn đầu tư đa dạng, minh bạch và bền vững nhằm nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho các khu vực ven biển Việt Nam.</p> Bùi Thị Ngọc Lan Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1181 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Ảnh hưởng của hàm lượng tro bay đến độ chống thấm nước và độ co ngót của bê tông https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1137 <p>Bài báo này nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng tro bay (FA) đến cường độ và độ bền của bê tông xi măng. Trong nghiên cứu thực nghiệm này, các tính chất được kiểm tra là cường độ chịu nén (CĐCN), độ chống thấm nước và độ co ngót của bê tông. Với mục đích này, một hỗn hợp bê tông FA loại F đã được thiết kế với năm mức FA thay thế xi măng PCB40 (0%, 20%, 25, 30% và 35%). Kết quả thử nghiệm cho thấy, ở 28 ngày tuổi CĐCN của các bê tông FA 20 - 35% đều giảm so với mẫu đối chứng 0%, bê tông có liều lượng FA 20% - 30% có độ chống thấm cao hơn mẫu đối chứng, nhưng tăng lên 35% thì độ chống thấm bắt đầu giảm so với mẫu đối chứng. Ở 56 ngày tuổi, mẫu FA 20% có CĐCN cao hơn mẫu đối chứng khoảng 1,5%, các hỗn hợp còn lại đều giảm nhẹ so với mẫu đối chứng lần lượt là -1,1%, -3,3% và -6%, nhưng tất cả các hỗn hợp bê tông FA đều có khả năng chống thấm tốt hơn mẫu đối chứng. Về độ co ngót, qua kết quả thí nghiệm cho thấy ở 28 và 56 ngày tuổi, bê tông hàm lượng FA tăng thì độ co ngót càng giảm so với mẫu đối chứng và giảm gần như tuyến tính.</p> Lê Châu Tuấn, Võ Bá Huy, Đinh Hoài Luân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1137 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Tổng quan về vật liệu kỹ thuật composite gốc xi măng (ECC) sử dụng cát nhiễm mặn và phụ gia khoáng: Tính chất và tiềm năng ứng dụng trong xây dựng hạ tầng giao thông https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1194 <p>Bài báo này tổng hợp và phân tích các nghiên cứu liên quan đến cát nhiễm mặn, phụ gia khoáng (tro bay [FA] và xỉ lò cao nghiền mịn [GGBFS]) và khả năng kết hợp của chúng trong chế tạo vật liệu kỹ thuật composite gốc xi măng (ECC) cho các cấu kiện hạ tầng giao thông. Cát nhiễm mặn tại Việt Nam có trữ lượng lớn, thành phần SO₃ thấp và kích thước hạt mịn, đồng thời chứa ion Cl⁻ có thể ảnh hưởng bất lợi nếu không được kiểm soát hợp lý. Các phụ gia khoáng (FA và GGBFS) giàu Al₂O₃, có khả năng thúc đẩy phản ứng pozzolan, hình thành các sản phẩm bền vững như muối Friedel và gel C–S–H, từ đó cải thiện đáng kể cường độ và độ bền lâu dài của ECC. Sự kết hợp cát nhiễm mặn và phụ gia khoáng được ghi nhận có thể nâng cao cường độ chịu nén, kéo và uốn; giảm co khô; tăng khả năng kháng mỏi; tăng cường tự phục hồi và chống xâm thực trong môi trường chứa clorua và sulfate. Các kết quả tổng hợp cho thấy hệ vật liệu ECC sử dụng cát nhiễm mặn kết hợp với phụ gia khoáng là giải pháp nhiều tiềm năng cho vật liệu xây dựng hạ tầng giao thông trong bối cảnh thiếu hụt nguồn cát tự nhiên và yêu cầu phát triển bền vững.</p> Lâm Trí Khang, Phạm Ngọc Phương, Huỳnh Trọng Phước Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1194 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Đánh giá ảnh hưởng của bột vỏ hàu đến một số đặc tính cơ học của bê tông xi măng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1175 <p>Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế một phần xi măng bằng bột vỏ hàu nghiền mịn đến tính chất cơ học của bê tông. Vỏ hàu được xử lý qua các bước làm sạch, phơi khô, nghiền, nung và sàng mịn. Thí nghiệm được thực hiện với các tỷ lệ thay thế là 2%, 4% và 6% theo khối lượng xi măng. Kết quả cho thấy tỷ lệ 2% là tối ưu, giúp cải thiện cường độ nén sớm, tăng cường độ chịu kéo khi uốn lên đến 58% so với mẫu đối chứng, trong khi mô đun đàn hồi gần như không thay đổi. Kết quả cho thấy bột vỏ hàu có tiềm năng ứng dụng làm phụ gia khoáng thay thế xi măng, góp phần giảm phát thải và tái sử dụng chất thải trong xây dựng bền vững.</p> Nguyễn Lê Tài, Lê Hoài Bão, Ngô Văn Thức Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1175 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Giới thiệu một số dự thảo tiêu chuẩn lĩnh vực kính xây dựng năm 2025 https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1119 <p>Trong những năm qua công tác xây dựng tiêu chuẩn mới và soát xét tiêu chuẩn hiện hành lĩnh vực vật liệu kính xây dựng luôn được thực hiện kịp thời nhằm cập nhật bổ sung những thay đổi về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, tạo tương đồng trong sản xuất và ứng dụng nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, giúp doanh nghiệp và nhà nước quản lý sản phẩm trên thị trường. Chính vì vậy, Bộ Xây dựng đã giao Viện Vật liệu xây dựng thực hiện các nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn trong giai đoạn 2024-2025 bao gồm : Kính xây dựng - Sản phẩm cơ bản đặc biệt. Gốm thủy tinh. Đánh giá phù hợp - Tiêu chuẩn sản phẩm, mã số TC 82-24; Kính xây dựng - Lắp kính và cách âm trong không khí - Đo trở kháng cơ học của kính dán, mã số TC 83-24; Kính xây dựng - Giá trị cân bằng năng lượng - Phương pháp tính, mã số TC 84-24; Chất trám liên kết. Chất trám liên kết chịu ánh sáng mặt trời trực tiếp sử dụng trong lắp kính, mã số TC 85-24; Kính xây dựng - Xác định độ phát xạ, mã số TC 95-24 và Kính xây dựng - An toàn cháy, khả năng chịu lửa - Phương pháp thử để phân loại, mã số TC 96-24. Các tiêu chuẩn này khi ban hành mang lại lợi ích tích cực như đảm bảo chất lượng sản phẩm, tăng cường an toàn, thúc đẩy đổi mới nâng cao chất lượng và tạo thuận lợi cho thương mại và hội nhập quốc tế.</p> Mai Trọng Nguyên, Nguyễn Văn Minh, Đào Anh Tuấn, Kiều Lê Hải, Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Lệ Quyên Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1119 Tue, 28 Oct 2025 00:00:00 +0000 Ứng dụng công cụ phân tích dòng vật chất đề xuất giải pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cho ngành sản xuất giấy – Nghiên cứu thí điểm cho nhà máy giấy Vina Kraft tại thành phố Hồ Chí Minh https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1192 <p>Phát thải khí nhà kính (KNK) trong ngành sản xuất giấy chủ yếu bắt nguồn từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch để tạo ra năng lượng, cùng với các quá trình hóa học và sinh học diễn ra trong công đoạn sản xuất bột giấy và giấy. Phương pháp phân tích dòng vật chất (MFA) là một công cụ hiệu quả trong việc định lượng dòng vật chất cho các giai đoạn của quá trình sản xuất giấy và xác định các cơ hội can thiệp nhằm giảm lượng phát thải KNK hướng tới hiện thực hóa các mục tiêu trung hòa carbon và phát thải ròng bằng không. Kết quả nghiên cứu từ nhà máy Vina Kraft cho thấy giấy phế liệu là nguồn nguyên liệu chính được sử dụng trong sản xuất và chiếm 96,55% tổng lượng nguyên liệu giấy. Tỷ lệ giấy được tái chế và tái sử dụng tại nhà máy là 4%, và tổng lượng phát thải khí nhà kính của nhà máy là 642.277,1 tấn CO<sub>2tđ</sub>. Giải pháp gia tăng tỷ lệ tái chế tái sử dụng giấy thải trong quá trình sản xuất của nhà máy sẽ giúp giảm lượng phát thải KNK cho hoạt động động sản xuất. Ngoài ra, nếu chất thải được sử dụng cho quá trình sản xuất năng lượng, và làm nguyên liệu trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng góp phần bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính. Kết quả thu được từ nghiên cứu thí điểm tại nhà máy Vina Kraft có thể tham khảo áp dụng cho các cơ sở khác trong công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy, góp phần thực hiện cam kết của chính phủ Việt Nam về ứng phó với biến đổi khí hậu.</p> Phạm Văn Nam, Phạm Văn Tới, Hoàng Ngọc Hà, Nguyễn Thế Thông, Nguyễn Anh Thư, Trần Hoài Lê Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1192 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Nghiên cứu vai trò của sợi thủy tinh S-glass đến khả năng chịu mài mòn nhiệt độ cao của vật liệu composite trên nền nhựa phenolic biến tính https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1165 <p>Hệ thống bảo vệ nhiệt (TPS) trong hàng không – vũ trụ và quốc phòng đặt ra yêu cầu về vật liệu có khả năng chịu mài mòn ở nhiệt độ cao đồng thời duy trì tính toàn vẹn cấu trúc. Trong nghiên cứu này, vật liệu composite nền nhựa phenolic–borat biến tính (PBR) được gia cường bằng sợi thủy tinh S-glass và chế tạo bằng phương pháp ép nóng nhiều giai đoạn với hàm lượng sợi thay đổi từ 65–80% khối lượng. Các tính chất được khảo sát gồm khối lượng riêng, độ rỗng (ASTM D792, ASTM D2734), cơ tính kéo – uốn (ASTM D638, ASTM D790) và khả năng chịu mài mòn nhiệt độ cao theo tiêu chuẩn ASTM E285 sử dụng nguồn nhiệt oxy–axetylen. Kết quả cho thấy khi hàm lượng sợi tăng từ 65–75%, độ bền kéo và độ bền uốn tăng đáng kể, đạt giá trị cực đại tương ứng 356,24 MPa và 784,35 MPa, với mô đun đàn hồi 31,49 GPa. Mẫu chứa 70–75% sợi thể hiện khả năng chịu mài mòn nhiệt tối ưu, thời gian mài mòn 275,6 giây và tốc độ mài mòn thấp nhất 0,0118 mm/giây. Ảnh SEM sau thử nghiệm cho thấy cấu trúc sợi được bảo toàn, đồng thời hình thành lớp cacbon và phụ phẩm bền nhiệt phủ lên bề mặt sợi, góp phần bảo vệ vật liệu. Kết quả khẳng định vật liệu composite PBR/S-glass có khả năng chịu tải mòn nhiệt tốt trong dải hàm lượng sợi 70–75%, phù hợp ứng dụng cho các hệ thống bảo vệ nhiệt TPS hoạt động trong môi trường nhiệt độ cao.</p> Nguyễn Hữu Đạt, Mai Đức Huynh, Trần Hữu Trung, Nguyễn Thị Thu Trang, Trần Thị Mai, Nguyễn Tiến Minh, Đỗ Văn Hùng, Lương Như Hải, Nguyễn Tuấn Hồng, Nguyễn Văn Thao, Nguyễn Vũ Giang Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1165 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Xác định các yếu tố gây rủi ro tiến độ do sử dụng nhà thầu phụ chỉ định (NSC) tại các dự án xây dựng ở Việt Nam https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1210 <p>Trong bối cảnh đầu tư xây dựng hiện nay tại Việt Nam, việc nhà thầu chính phải ký hợp đồng với các nhà thầu phụ chỉ định (NSC) theo yêu cầu của chủ đầu tư đang trở nên ngày càng phổ biến. Cơ chế này thường xuất phát từ các yêu cầu về kỹ thuật chuyên môn đặc thù, ràng buộc về thương hiệu hoặc xuất xứ thiết bị, cũng như các chủ trương quản lý dự án của chủ đầu tư. Mặc dù việc sử dụng NSC giúp tận dụng năng lực chuyên sâu của các đơn vị có kinh nghiệm, cơ chế này đồng thời làm phát sinh nhiều rủi ro trong quá trình thực hiện dự án, đặc biệt là rủi ro ảnh hưởng đến tiến độ thi công. Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên phân tích 106 phiếu khảo sát hợp lệ thu thập từ tổng số 121 bảng khảo sát, kết hợp với ý kiến đánh giá của 11 chuyên gia có kinh nghiệm từ 06 đến 35 năm trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 21 yếu tố rủi ro chính liên quan đến việc sử dụng nhà thầu phụ chỉ định. Trên cơ sở phân tích thống kê và đối chiếu với nhận định của chuyên gia, nghiên cứu tiến hành xếp hạng mức độ tác động của các yếu tố rủi ro này và đề xuất các giải pháp ứng phó cụ thể cho 10 yếu tố được đánh giá là có ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến tiến độ thực hiện dự án.</p> Mã Ngọc Bích Huyền, Đỗ Tiến Sỹ, Nguyễn Thanh Việt Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1210 Tue, 23 Dec 2025 00:00:00 +0000 Hiệu quả gia cường BFRP và ảnh hưởng của tải trọng lặp đến khả năng chịu tải của nút bê tông cốt thép https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1090 <p>Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu về hiệu quả gia cường basalt fiber reinforced polymer (BFRP) và ảnh hưởng của tải trọng lặp đến khả năng chịu tải của nút dầm-cột bê tông cốt thép (BTCT) có hệ dầm trực giao. Thí nghiệm được thực hiện trên tám nút dầm-cột. Tám nút dầm-cột này được chia thành bốn nhóm, mỗi nhóm gồm hai nút. Một nhóm không gia cường và ba nhóm còn lại được gia cường bằng sợi BFRP với các cấu hình khác nhau. Trong mỗi nhóm, một nút chịu tác dụng tải trọng đơn và nút còn lại chịu tác dụng của tải trọng lặp. Kết quả cho thấy các nút bị phá hoại ở dạng bê tông vùng nén bị nén vỡ; trong khi đó, bê tông vùng kéo bị nứt. Sự phá hoại tập trung ở vị trí dầm mà không xuất hiện trên cột. Dưới tác dụng của tải đơn, gia cường BFRP đã làm tăng trung bình khoảng 8,5% tải trọng tới hạn của nút. Khi nút chịu tải trọng lặp, gia cường BFRP làm tăng 3,3–7,0% so với nút đối chứng. Tải lặp có ảnh hưởng lớn đến khả năng chịu tải tới hạn của nút. So với nút đối chứng chịu tải đơn, tải lặp đã làm giảm 14,3% tải trọng tới hạn của nút không gia cường và 8,3–17,2% khả năng chịu tải tới hạn của nút gia cường.</p> Võ Bá Huy, Đinh Hoài Luân, Đoàn Văn Đẹt, Cao Văn Vui Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1090 Tue, 28 Oct 2025 00:00:00 +0000 Tính chất cơ học của vật liệu composite nền epoxy epikote 828 gia cường bằng tổ hợp hybrid thủy tinh/carbon https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1187 <p>Nghiên cứu này cho thấy hiệu quả của các loại sợi gia cường đơn (carbon hoặc thủy tinh) so với tổ hợp gia cường hybrid sợi thủy tinh/carbon trên cơ sở nhựa epoxy epikote 828. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi sử dụng sợi gia cường đơn lẻ cho tính chất cơ học thuần túy và đặc trưng cho từng loại sợi gia cường. Trong khi đó, sử dụng tổ hợp hybrid gia cường thủy tinh/carbon cho kết quả hiệp đồng về tính chất cơ học của composite. Cụ thể, độ bền kéo đạt 205 MPa, độ bền uốn đạt 331 MPa và độ bền va đập 75 KJ/m2. Bề mặt phá hủy của mẫu composite được phân tích bằng ảnh SEM và tính chất nhiệt của vật liệu composite được xác định bằng tổn hao khối lượng khi gia nhiệt-TGA. Kết quả cho thấy với sự có mặt của tổ hợp sợi gia cường hybrid cho độ ổn định nhiệt tốt hơn so với mẫu composite đơn thuần sợi thủy tinh.</p> Hoàng Nhật Minh, Nguyễn Đức Mạnh, Nguyễn Tiến Đạt, Đặng Thị Thảo Vân, Huỳnh Việt Tiền, Lê Văn Long, Đặng Hữu Trung Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1187 Mon, 05 Jan 2026 00:00:00 +0000 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của việc áp dụng BIM cho các dự án đầu tư ở thành phố Hà Nội https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1159 <p>Mô hình thông tin công trình (BIM - Building Information Modeling) đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư thông qua việc tích hợp thông tin, tối ưu hóa quy trình và giảm thiểu chi phí – rủi ro trong toàn bộ vòng đời công trình. Việc áp dụng BIM mang lại hiệu quả kinh tế toàn diện cho các dự án đầu tư, giúp tiết kiệm chi phí, rút ngắn tiến độ, nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của việc áp dụng BIM cho các dự án đầu tư ở thành phố Hà Nội là cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao.</p> Lê Minh Thoa, Lâm Hải Hòa, Nguyễn Thanh Huyền, Nguyễn Thanh Tuyền Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1159 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Ứng dụng VBA Excel phân tích nội lực dầm phẳng bằng phương pháp ma trận https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1199 <p>Một công cụ tính toán dầm phẳng đơn giản được xây dựng trên nền tảng Excel bằng VBA dựa theo phương pháp ma trận (Matrix Structural Analysis – MSA). Phương pháp này mô tả mối quan hệ giữa lực nút, chuyển vị nút và độ cứng của kết cấu thông qua hệ phương trình cân bằng dạng ma trận. Chương trình tự động hóa quá trình tính toán gồm thiết lập ma trận độ cứng, quy đổi tải trọng phân bố, giải hệ phương trình để xác định chuyển vị, phản lực gối và nội lực trong dầm. Kết quả được hiển thị trực quan bằng bảng và biểu đồ mômen – lực cắt. Ngoài ra, bài viết so sánh kết quả giữa MSA và phương pháp phần tử hữu hạn (FEM), qua đó làm rõ ưu điểm về tính đơn giản, trực quan và khả năng ứng dụng của MSA trong giảng dạy và nghiên cứu kết cấu tuyến tính.</p> Khúc Thiên Thanh, Kiều Trần Thu Ngân, Đoàn Công Đức, Vũ Hồ Nam Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1199 Tue, 06 Jan 2026 00:00:00 +0000 Đánh giá khả năng sử dụng nguồn vật liệu san lấp tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để thi công nền đường vùng trũng ven sông https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1182 <p>Quá trình sáp nhập địa giới hành chính các tỉnh phía Nam và định hướng phát triển hạ tầng quy mô lớn đã tạo nhu cầu cấp thiết về vật liệu san lấp, đặc biệt là cho nền đường tại vùng trũng ven sông ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Trong bối cảnh nguồn vật liệu truyền thống suy giảm, cấp phối đá dăm 0÷4,0 cm từ đá vôi ở các vùng đồi núi giáp Campuchia trở thành một giải pháp thay thế tiềm năng nhờ đặc tính cơ lý phù hợp và khả năng khai thác thuận lợi. Nghiên cứu đánh giá khả năng sử dụng vật liệu này kết hợp 10÷20% tro bay nhiệt điện Duyên Hải 1 nhằm cải thiện độ bền, khả năng chống thấm và giảm lún nén. Kết quả nghiên cứu cho thấy vật liệu phối trộn đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật đề ra, góp phần giảm chi phí, tận dụng phế thải công nghiệp và phù hợp với định hướng kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý khai thác bền vững và việc ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật riêng cho vật liệu địa phương, góp phần phát triển hạ tầng xanh, bền vững cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.</p> Lê Anh Tuấn, Nguyễn Vĩnh Bảo Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1182 Mon, 08 Dec 2025 00:00:00 +0000 Nghiên cứu một số tính chất cơ học của bê tông hạt mịn có sử dụng mảnh PET phế thải dưới tác động của nhiệt độ https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1154 <p>Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của nền nhiệt độ cao tới một số tính chất cơ học của bê tông hạt mịn có sử dụng mảnh PET phế thải (CWRP). Các cấp phối bê tông hạt mịn với sự thay thế 10, 15 và 20% mảnh PET băm theo thể tích sẽ được nghiên cứu khả năng chịu nhiệt. Để thực hiện nghiên cứu này, các mẫu dầm lăng trụ và mẫu lập phương đã được đúc để xác định cường độ chịu kéo khi uốn và nén của CWRP trước và sau khi chịu nhiệt đồng thời tinh công tác của hỗn hợp của được xác định. Kết quả nghiên cứu chỉ ra khi hàm lượng PET thay thế tăng lên thì tính công tac của hỗn hợp có xu hướng giảm. Việc tăng hàm lượng PET thay thế làm suy giảm cường độ chịu kéo khi uốn và nén của CWRP ở nhiệt độ phòng thí nghiệm. Dưới nền nhiệt độ cao nghiên cứu cho thấy khi hàm lượng mảnh PET tăng thì tính nhạy cảm nhiệt của CWRP tăng. Thông qua khảo sát hàm lượt PET thay thế khoảng 10 % là phù hợp đảm bảo tinh công tác và các đặc trưng cơ lý của CWRP trong điều kiện nhiệt độ môi trường.</p> Nguyễn Đình Hải Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1154 Mon, 15 Dec 2025 00:00:00 +0000 Tổng quan về tái chế bã mía làm vật liệu cho bê tông xi măng: Cơ tính, độ bền và khả năng ứng dụng trong mặt đường cứng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1195 <p>Bài báo này trình bày tổng quan toàn diện về khả năng tái chế bã mía – một phụ phẩm nông nghiệp dồi dào tại Việt Nam và nhiều quốc gia nhiệt đới – làm vật liệu trong bê tông xi măng (BTXM) và tiềm năng ứng dụng trong mặt đường cứng. Hai dạng tái chế chính gồm tro bã mía (SCBA) và sợi/hạt bã mía (SBF) được phân tích theo cơ chế hoạt động, quy trình xử lý và ảnh hưởng đến các tính chất cơ học và độ bền của BTXM. Kết quả tổng hợp cho thấy SCBA, khi được xử lý và nghiền mịn thích hợp, thể hiện hoạt tính pozzolan rõ rệt, giúp cải thiện cường độ nén, độ đặc chắc và độ bền lâu; trong khi SBF đóng vai trò vật liệu gia cường tự nhiên, làm tăng khả năng chịu uốn, hạn chế nứt và nâng cao độ dẻo dai của bê tông. Các đánh giá theo tiêu chuẩn TCCS 39:2022 và TCCS 40:2022 chỉ ra rằng bã mía tái chế hoàn toàn có khả năng đáp ứng một số yêu cầu kỹ thuật của BTXM mặt đường, đặc biệt trong các thiết kế hướng tới vật liệu xanh và phát triển bền vững. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện có vẫn chủ yếu ở quy mô phòng thí nghiệm; do đó cần thêm các nghiên cứu thực nghiệm, thí điểm và đánh giá dài hạn để xác định mức độ phù hợp khi triển khai vào thực tế hạ tầng giao thông tại Việt Nam.</p> Nguyễn Đình Thắng, Phạm Ngọc Phương, Huỳnh Trọng Phước Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1195 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Xây dựng định mức dự toán đường sắt đô thị Việt Nam: Cơ sở lý luận và thực tiễn https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1180 <p>Hiện nay, quá trình đô thị hóa với tốc độ cao đang tạo ra những thách thức lớn cho hệ thống giao thông đô thị tại Việt Nam như tắc nghẽn, ô nhiễm và tai nạn gia tăng. Do đó, phát triển đường sắt đô thị được Nhà nước coi là giải pháp cấp thiết với kế hoạch đến năm 2035 Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới 580km, đáp ứng 30-35% nhu cầu vận chuyển hành khách công cộng. Tuy nhiên, Việt Nam hiện chưa có hệ thống định mức dự toán riêng cho đường sắt đô thị nên các dự án phải vận dụng định mức của nước ngoài hoặc của các lĩnh vực khác, gây khó khăn trong quản lý chi phí. Cụ thể, tuyến Cát Linh - Hà Đông sử dụng định mức Trung Quốc, tuyến metro số 1 Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên suất đầu tư khu vực châu Á, tuyến metro số 2 Thành phố Hồ Chí Minh phải tự xây dựng định mức đặc thù. Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nước phát triển như Nhật Bản, Trung Quốc, … đều có hệ thống định mức riêng cho đường sắt đô thị, trong khi Việt Nam chỉ có định mức chung cho tất cả ngành và một số định mức chuyên ngành nhưng chưa có định mức cho đường sắt đô thị. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, bài báo chỉ ra vai trò quan trọng của việc xây dựng hệ thống định mức để đảm bảo quản lý chi phí hiệu quả, minh bạch và phù hợp với đặc thù kỹ thuật phức tạp của đường sắt đô thị. Từ đó, bài báo đề xuất bốn giải pháp chính: (1) Xây dựng hệ thống định mức đặc thù cho đường sắt đô thị phù hợp điều kiện Việt Nam; (2) Học hỏi có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và điều chỉnh theo thực tiễn trong nước; (3) Thể chế hóa khung pháp lý riêng cho định mức dự toán hạ tầng đô thị; (4) Từng bước xây dựng mô hình định mức ứng dụng công nghệ số như BIM, AI và Big Data.</p> Bùi Thị Ngọc Lan Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1180 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Công tác tiêu chuẩn hóa nhóm vật liệu liên kết thủy lực – kết quả và định hướng của Viện Vật liệu xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1132 <p>Bài báo trình bày tổng quan về công tác tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực vật liệu xây dựng do Viện Vật liệu xây dựng (VIBM) chủ trì biên soạn trong giai đoạn gần đây. Nội dung tập trung vào nhóm vật liệu liên kết thủy lực, bao gồm các tiêu chuẩn về xi măng xây trát, xi măng poóc lăng đa cấu tử, phụ gia đá vôi mịn, xỉ lò cao nghiền mịn, tro bay và hỗn hợp liên kết thủy lực. Việc xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn này đã góp phần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia TCVN theo hướng hài hòa với tiêu chuẩn châu Âu (EN), đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải CO₂. Kết quả này cũng là cơ sở quan trọng hướng tới phát triển vật liệu xây dựng xanh và bền vững ở Việt Nam.</p> Vũ Văn Linh, Nguyễn Văn Hoan, Tạ Văn Luân, Dương Thanh Qui, Phan Văn Quỳnh, Phạm Hữu Thiên, Nguyễn Thanh Bình Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1132 Tue, 28 Oct 2025 00:00:00 +0000 Giải pháp tích hợp BIM 4D-EVM cho kiểm soát tiến độ xây dựng tại Việt Nam https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1193 <p>Việc kiểm soát tiến độ thi công tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức do dữ liệu phân mảnh, quy trình quản lý truyền thống và thiếu tích hợp giữa thông tin thiết kế - thi công - chi phí. BIM 4D và Earned Value Management (EVM) là hai công cụ hiện đại hỗ trợ trực quan hóa trình tự thi công và đánh giá hiệu suất tiến độ - chi phí bằng các chỉ số định lượng. Tuy nhiên, cả hai phương pháp vẫn chủ yếu được triển khai riêng rẽ và chưa hình thành mô hình tích hợp tại Việt Nam. Nghiên cứu này hệ thống hóa cơ sở lý luận về BIM 4D và EVM, phân tích thực trạng áp dụng tại Việt Nam và nhận diện các hạn chế về dữ liệu, công nghệ, nhân lực và thể chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật - công nghệ - tổ chức nhằm tích hợp BIM 4D và EVM trong kiểm soát tiến độ, bao gồm chuẩn hóa mã công việc (WBS), quy trình liên kết mô hình - tiến độ - chi phí, xây dựng môi trường dữ liệu chung (CDE), ứng dụng IoT/UAV/scan 3D trong cập nhật tiến độ và hoàn thiện hành lang pháp lý. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp định hướng khả thi cho quản lý tiến độ dựa trên dữ liệu, phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số ngành xây dựng Việt Nam.</p> Lê Văn Tuấn, Nguyễn Quốc Toản, Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Đức Phong Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1193 Mon, 29 Dec 2025 00:00:00 +0000 Dự báo chiều dài nước nhảy, ứng suất đáy và tổn thất năng lượng bằng mô hình học máy cho nước nhảy ổn định, tự do trên nền nhám https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1168 <p>Việc xác định hoặc dự đoán các đặc điểm của nước nhảy trên các nền nhám vẫn là một vấn đề phức tạp trong lĩnh vực kỹ thuật thủy lực. Mặc dù, các nghiên cứu mô phỏng số và thực nghiệm gần đây đã nâng cao hiểu biết về hiện tượng này, nhưng vẫn cần một phương pháp dự đoán hiệu quả và chính xác để thiết kế tối ưu các bể tiêu năng trong điều kiện dòng chảy lũ phức tạp. Nghiên cứu này đề xuất một phương pháp tiên tiến để dự đoán các thông số thủy lực chính của nước nhảy tự do và ổn định trên các nền nhám hình lăng trụ tam giác vuông, bao gồm chiều dài nước nhảy (<em>L<sub>j</sub></em>/<em>y</em>₁), ứng suất đáy (<em>e</em>) và tổn thất năng lượng (Δ<em>E<sub>L</sub></em>/<em>E</em>₁). Các kỹ thuật học máy, cụ thể là Hồi quy cây quyết định (Fine Tree) và Hồi quy vectơ hỗ trợ (SVR), đã được áp dụng để mô hình hóa các mối quan hệ phi tuyến tính giữa hình dạng nền thô và hành vi dòng chảy xiết đầu kênh. Kết quả nghiên cứu cho thấy các mô hình đạt được độ chính xác dự đoán cao (<em>R</em>² = 0,91 ¸ 0,99) với giá trị lỗi <em>RMSE</em> thấp, khẳng định khả năng mạnh mẽ của mô hình trong việc dự đoán các hiện tượng thủy lực phức tạp. Những phát hiện này chứng minh rằng trí tuệ nhân tạo (AI) có thể đóng vai trò là giải pháp thay thế đáng tin cậy và tiết kiệm chi phí cho các thí nghiệm mô hình vật lý và mô phỏng số, cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để phân tích và tối ưu hóa hiệu suất thủy lực và hiệu quả tiêu tán năng lượng của nước nhảy trên nền nhám trong điều kiện thủy lực phức tạp.</p> <div style="all: initial !important;"> </div> <div style="all: initial !important;"> </div> Trịnh Công Tý Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1168 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Nhận diện và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc mua sắm bền vững trong các dự án xây dựng tại Đồng bằng sông Cửu Long https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1212 <p>Trong bối cảnh ngành xây dựng Việt Nam chuyển dịch theo định hướng tăng trưởng xanh, mua sắm bền vững ngày càng được xem là công cụ quan trọng để tích hợp các mục tiêu môi trường, xã hội và kinh tế vào quá trình lựa chọn vật liệu, nhà thầu và dịch vụ xây dựng. Tuy nhiên, tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), việc triển khai mua sắm bền vững trong các dự án xây dựng dân dụng vẫn còn hạn chế do nhiều rào cản về thể chế, thị trường, năng lực tổ chức và điều kiện hạ tầng đặc thù vùng ngập lũ. Nghiên cứu này nhằm nhận diện và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện mua sắm bền vững trong bối cảnh ĐBSCL. Phương pháp nghiên cứu định lượng được áp dụng, dựa trên khảo sát 500 đối tượng liên quan bằng bảng hỏi thang đo Likert 5 mức. Độ tin cậy thang đo được kiểm định bằng Cronbach’s Alpha và cấu trúc nhân tố được rút trích bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA). Kết quả cho thấy 38 biến quan sát hội tụ thành bốn nhóm nhân tố chính, bao gồm hai nhóm rào cản và hai nhóm lợi ích. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản lý nhằm thúc đẩy mua sắm bền vững trong xây dựng dân dụng tại ĐBSCL.</p> Lương Đức Long, Nguyễn Thiên Phúc Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1212 Wed, 07 Jan 2026 00:00:00 +0000 Giới thiệu tiêu chuẩn sơn và vecni - xác định độ bám dính https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1101 <p>Tiêu chuẩn quy định phương pháp để xác định độ bám dính của “sơn, vecni hoặc sản phẩm liên quan” và được chuyển dịch chấp nhận (tương đương) theo tiêu chuẩn . Trong tiêu chuẩn này, đưa ra 03 phương pháp xác định bộ bám dính bằng cách thực hiện phép kéo nhổ trên một lớp phủ hoặc hệ nhiều lớp phủ.</p> Đàm Thị Mỹ Lương Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1101 Tue, 28 Oct 2025 00:00:00 +0000 Tác động, thách thức và giải pháp của đô thị hóa tới dòng chảy nước mưa đô thị https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1188 <p>Các tác động của đô thị hóa và biến đổi khí hậu lên dòng chảy nước mưa, chỉ ra rằng sự gia tăng nhanh bề mặt không thấm, san lấp ao hồ và hạ tầng thoát nước lạc hậu là các nguyên nhân chính làm tăng mạnh dòng chảy đỉnh và nguy cơ ngập úng. Quy trình nghiên cứu dựa trên dữ liệu khí tượng thủy văn, viễn thám, bản đồ sử dụng đất và phân tích hệ thống thoát nước, nhằm xác định cách đô thị hóa làm thay đổi chế độ dòng chảy và các điểm nghẽn trong quản lý nước mưa. Kết quả cho thấy dòng chảy bề mặt trong đô thị có thể tăng gấp 4–5 lần so với điều kiện tự nhiên; đỉnh lũ xuất hiện nhanh hơn; các trận mưa cực đoan giai đoạn 2024–2025 liên tục vượt quá khả năng thiết kế của hệ thống thoát nước, gây ngập sâu ở Hà Nội, TP.HCM, miền Trung và cả các đô thị trung du. Mật độ xây dựng cao, thiếu không gian thấm và quy hoạch thiếu đồng bộ làm gia tăng rủi ro kinh tế – xã hội và suy thoái môi trường. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp gồm quy hoạch đô thị tích hợp, nâng cấp hạ tầng thoát nước, mở rộng hạ tầng xanh, tăng cường hệ thống cảnh báo, vận hành thông minh và quản lý cộng đồng nhằm giảm đỉnh dòng chảy, nâng cao khả năng chống chịu và hướng tới phát triển đô thị bền vững.</p> Nguyễn Minh Ngọc Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1188 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Xác định giá trị đặc trưng của thông số đất trong các tiêu chuẩn tính toán nền móng ở Việt Nam https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1162 <p>Việt Nam hiện đang trong quá trình hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) cho ngành xây dựng, trong đó nhiều tiêu chuẩn được chuyển đổi và tham khảo từ các tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, giữa các tiêu chuẩn hiện hành vẫn tồn tại sự khác biệt đáng kể về phương pháp tính toán, đặc biệt là trong việc xác định và sử dụng giá trị đặc trưng của các thông số đất trong thiết kế nền móng. Nghiên cứu này tổng hợp, phân tích và so sánh các quy định liên quan trong các tiêu chuẩn TCVN hiện hành, đồng thời đối chiếu với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan. Kết quả cho thấy các tiêu chuẩn TCVN chưa thống nhất về phương pháp xác định giá trị đặc trưng và hệ số tin cậy trong tính toán địa kỹ thuật. Mặc dù TCVN 9362-2012 và TCVN 10304-2025 đều có quy định về giá trị đặc trưng, cách tiếp cận của chúng dẫn đến sự khác biệt trong kết quả tính toán, làm ảnh hưởng đến độ tin cậy và tính nhất quán của thiết kế. Các kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ bản chất của các phương pháp tính toán được sử dụng trong các tiêu chuẩn, đồng thời khẳng định nhu cầu cấp thiết phải hệ thống hóa và thống nhất các tiêu chuẩn TCVN về địa kỹ thuật. Việc xây dựng các tiêu chuẩn rõ ràng, dễ hiểu và có tính thống nhất cao sẽ giúp nâng cao hiệu quả thiết kế, quản lý và áp dụng trong thực tiễn xây dựng tại Việt Nam.</p> Phạm Thế Anh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1162 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Nghiên cứu thu hút đầu tư hạ tầng giao thông vào vùng đất nhiễm mặn dọc sông Tiền làm cơ sở phát triển du lịch và nông nghiệp https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1200 <p>Vùng đất nhiễm mặn dọc sông Tiền của tỉnh Tiền Giang có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp, thủy sản và du lịch sinh thái, song hạ tầng giao thông còn hạn chế do địa hình bị chia cắt và tác động ngày càng gia tăng của xâm nhập mặn. Thực trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hút đầu tư và việc hình thành chuỗi giá trị nông nghiệp – du lịch tại khu vực ven sông Tiền. Nghiên cứu tập trung phân tích vai trò của hạ tầng giao thông trong kết nối không gian phát triển, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế và nâng cao hiệu quả khai thác tiềm năng của vùng nhiễm mặn. Trên cơ sở đánh giá các khó khăn và yêu cầu phát triển bền vững, nghiên cứu đề xuất các giải pháp thu hút đầu tư theo hướng áp dụng mô hình hợp tác công – tư, lồng ghép dự án giao thông với các lĩnh vực có doanh thu bổ trợ và tăng cường cơ chế hỗ trợ phù hợp với điều kiện môi trường đặc thù. Kết quả nghiên cứu góp phần định hướng phát triển hạ tầng giao thông gắn với chuỗi giá trị nông nghiệp – du lịch tại vùng ven sông Tiền.</p> Lê Phi Vũ , Nguyễn Chí Nhân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1200 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Nghiên cứu tạo gạch alumosilicat từ đất sét Chí Linh, thành phố Hải Phòng bằng phương pháp không nung https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1027 <p>Gạch không nung alumosilicat được làm từ cao lanh, đất sét và Samot. Ảnh hưởng của thành phần, kích thước hạt đất sét đến cường độ của gạch được nghiên cứu. Cường độ của gạch được kiểm tra bằng máy E156 của hãng Matest. Cấu trúc của gạch được kiểm tra bằng phổ hồng ngoại (IR), phương pháp phổ nhiễu xạ tia x(XRD). Kết quả chỉ ra rằng vật liệu chứa 85 % Samốt, 2 % cao lanh, 13 % đất sét có cường độ cao nhất. Vật liệu có cường độ cao nhất khi kích thước hạt đất sét ≤ 0,15 mm.</p> Hà Mạnh Chiến, Lê Quang Huy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1027 Fri, 19 Dec 2025 00:00:00 +0000 Nghiên cứu chế tạo bê tông cường độ cao chống thấm nước dùng trong xây dựng phần ngầm nhà cao tầng khu vực thành phố Hồ Chí Minh https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1184 <p>Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu chế tạo bê tông cường độ cao không thấm nước với mục tiêu cải thiện khả năng chịu nén, chống nứt và chống thấm nước phục vụ xây dựng các công trình ngầm, tầng hầm, nhiều tầng nhất là các công trình ngầm tại khu vực TP. Hồ Chí Minh. Năm cấp phối bê tông được thiết kế theo ACI 211.4R-08 với sự kết hợp giữa xi măng Portland hỗn hợp PCB40, tro bay nhiệt điện Duyên Hải, silica fume SF-90 và sợi polypropylene phân tán. Các tính chất công tác, cơ lý và chống thấm của bê tông được xác định theo tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành. Kết quả thí nghiệm cho thấy bê tông đạt cường độ nén trung bình ở tuổi 28 ngày từ 63,5 MPa đến 73,6 MPa, cường độ kéo uốn từ 7,40 đến 8,02 MPa, mô đun đàn hồi trung bình trên 37,4 GPa. Độ hút nước dưới 8%, khả năng chống thấm đạt W12-W19 theo TCVN 3116:2022. Hỗn hợp bê tông có tính công tác tốt với độ sụt từ 19,0-22,0 cm, ổn định theo thời gian và không phân tầng, phù hợp cho điều kiện thi công tại công trường. Từ kết quả thu được trong nghiên cứu này có thể khẳng định, bê tông cường độ cao, chống thấm nước tốt là giải pháp bền vững và hiệu quả cho xây dựng hạ tầng phần ngầm tại TP. Hồ Chí Minh, đồng thời góp phần giảm sử dụng xi măng, tận dụng phế thải công nghiệp và hướng tới vật liệu xây dựng thân thiện môi trường.</p> Võ Quốc Bảo, Nguyễn Vĩnh Bảo, Nguyễn Chí Nhân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1184 Mon, 08 Dec 2025 00:00:00 +0000 Quy trình ứng dụng BIM (Building Information Modeling) theo ISO 19650 cho doanh nghiệp xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1213 <p>Trong bối cảnh chuyển đổi số ngành xây dựng, việc ứng dụng mô hình thông tin công trình (Building Information Modeling – BIM) đang ngày càng trở nên phổ biến tại các doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp hiện nay mới dừng lại ở việc áp dụng BIM ở mức công cụ, thiếu một quy trình quản lý thông tin thống nhất và chuẩn hóa, đặc biệt chưa tuân thủ đầy đủ theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 19650. Điều này dẫn đến các hạn chế trong phối hợp, kiểm soát thông tin và khai thác giá trị lâu dài của dữ liệu BIM trong quản lý dự án. Nghiên cứu này nhằm đề xuất một quy trình ứng dụng BIM theo tiêu chuẩn ISO 19650 phù hợp với điều kiện thực tiễn của doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích tài liệu, tổng hợp các yêu cầu của ISO 19650, mô hình hóa quy trình bằng phương pháp Business Process Model and Notation (BPMN) và khảo sát ý kiến của đội ngũ kỹ sư đang làm việc trong môi trường BIM. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng quy trình quản lý thông tin BIM xoay quanh các thành phần cốt lõi gồm: yêu cầu thông tin (EIR), kế hoạch thực hiện BIM (BEP), môi trường dữ liệu chung (CDE) và phân công trách nhiệm theo ISO 19650. Kết quả khảo sát cho thấy quy trình đề xuất có tính khả thi cao, giúp nâng cao mức độ minh bạch, khả năng kiểm soát thông tin và hiệu quả phối hợp giữa các bên tham gia dự án. Nghiên cứu góp phần cung cấp một khung tham chiếu thực tiễn cho các doanh nghiệp xây dựng trong quá trình triển khai BIM theo ISO 19650, hướng tới quản lý thông tin hiệu quả và bền vững.</p> Nguyễn Anh Thư, Phạm Thành Nhân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1213 Mon, 05 Jan 2026 00:00:00 +0000