Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn <div class="description"> <p><strong>Tạp chí Vật liệu và Xây dựng </strong></p> <p>Tạp chí Vật liệu và Xây dựng là tạp chí khoa học của Viện Vật liệu xây dựng (VIBM), tiền thân là Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển Vật liệu xây dựng (ISSN1859-381X), được thành lập ngày 16/02/2011 theo Giấy phép số 175/GP-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông với số lượng xuất bản ban đầu là 04 số/năm, ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng Việt. Năm 2014, Bộ Thông tin và Truyển thông cho phép Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển VLXD tăng kỳ xuất bản và bổ sung ngôn ngữ tiếng Anh (Journal of Building Materials Research and Development – ISSN1859-381X) theo Giấy phép số 221/GP-BTTTT ngày 17/07/2014.</p> <p>Với mục tiêu phát triển Tạp chí theo hướng mở rộng lĩnh vực, nội dung, tăng cường chất lượng và số lượng, hướng tới hội nhập quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển vật liệu xây dựng đã đề nghị và được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép (số 564/GP-BTTTT ngày 03/12/2020) đổi tên thành Tạp chí Vật liệu và Xây dựng – Journal of Materials and Construction. Tạp chí Vật liệu và Xây dựng là tạp chí khoa học có phản biện, đăng tải các bài báo khoa học thuộc lĩnh vực vật liệu xây dựng; cơ khí xây dựng; kiến trúc và qui hoạch; kinh tế và quản lý xây dựng; hạ tầng kỹ thuật và môi trường xây dựng,…</p> <p>Website chính thức của Tạp chí bằng tiếng Việt (ISSN1859-381X) và Tạp chí bằng tiếng Anh là (ISSN 2734-9438) tương ứng như sau:</p> <p><a href="https://jomc.vn/">https://jomc.vn/</a></p> <p><a href="https://jomc.vn/en/home/">http://jomc.vn/en</a></p> <p>Để xứng đáng với sự tin cậy của quý bạn đọc và đáp ứng yêu cầu chất lượng cao của Tạp chí, Ban Biên tập Tạp chí rất mong tiếp tục nhận được sự đồng hành, đóng góp nhiệt tình của các nhà khoa học, các chuyên gia, các đối tác trong và ngoài nước bằng cách đóng góp ý kiến, gửi bài đăng trên Tạp chí và đọc phản biện cho các bài báo gửi đến Tạp chí.</p> <p>Xin trân trọng cảm ơn!</p> </div> vi-VN contact@jomc.vn (Tạp chí Vật liệu & Xây dựng) contact@jomc.vn (Tạp chí Vật liệu & Xây dựng) Tue, 28 Apr 2026 00:00:00 +0000 OJS 3.3.0.9 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Đánh giá khả năng tạo khí sinh học của sinh khối tảo Spirulina thô và tiền xử lý https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1205 <p>Phân hủy kỵ khí là công nghệ hiệu quả để chuyển hóa sinh khối thành khí sinh học giàu methane. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tiềm năng sinh methane của sinh khối <em>Spirulina</em> thương mại thông qua thí nghiệm xác định tiềm năng methane (Biochemical Methane Potential - BMP) ở điều kiện mesophilic 35 °C, đồng thời khảo sát ảnh hưởng của hai phương pháp tiền xử lý gồm nghiền cơ học và xử lý vi sóng. Kết quả cho thấy sinh khối <em>Spirulina</em> thô đạt giá trị BMP là 0,335 ± 0,018 L CH₄/g VS. Khi áp dụng tiền xử lý nghiền cơ học, BMP tăng lên 0,341 ± 0,005 L CH₄/g VS (cải thiện 1,8%), trong khi tiền xử lý vi sóng cho kết quả BMP cao nhất là 0,364 ± 0,002 L CH₄/g VS (cải thiện 8,7%). So sánh với tiềm năng methane lý thuyết (TBMP = 0,5147 L CH₄/g VS), sinh khối <em>Spirulina</em> đạt hiệu suất khai thác lần lượt là 65,1%, 66,2% và 70,7% cho các điều kiện thô, nghiền và vi sóng. Kết quả này cho thấy tiền xử lý vi sóng là phương pháp hiệu quả hơn trong việc cải thiện khả năng phân hủy sinh khối <em>Spirulina</em>, tuy nhiên mức cải thiện vẫn ở mức vừa phải, phản ánh hạn chế liên quan đến cấu trúc tế bào bền của sinh khối này và nguy cơ ức chế từ ammonia sinh ra trong quá trình phân hủy protein. Kết quả nghiên cứu này cung cấp thông tin khoa học ban đầu cho việc khai thác sinh khối <em>Spirulina</em> nội địa trong sản xuất khí sinh học, đồng thời nêu bật sự cần thiết của các phương pháp tiền xử lý và quản lý tối ưu các thông số vận hành trong ứng dụng thực tế.</p> Trần Công Khánh, Phạm Văn Định, Trần Ngọc Minh, Bùi Ngọc Anh, Trần Lê Quân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1205 Tue, 13 Jan 2026 00:00:00 +0000 Ứng dụng mô hình toán trong đánh giá ổn định đường bờ sông Hậu, đoạn qua phường Long Xuyên và Bình Đức, tỉnh An Giang https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1220 <p>Nghiên cứu này ứng dụng kết hợp hai mô hình toán MIKE 3 và GeoSlope nhằm phân tích diễn biến thủy động lực, vận chuyển bùn cát và ổn định mái dốc bờ sông. Dữ liệu đầu vào bao gồm thông tin về thủy văn, địa hình, địa chất và kế thừa kết quả hiệu chỉnh từ mô hình MIKE 11. Trên cơ sở đó, mô hình MIKE 3 được sử dụng để mô phỏng sự biến đổi hình thái lòng dẫn trong các điều kiện mùa khô và mùa lũ. Đồng thời, mô hình GeoSlope được áp dụng để kiểm tra độ ổn định mái bờ sông với các kịch bản có và không có giải pháp công trình. Kết quả nghiên cứu cho thấy khu vực nghiên cứu có nguy cơ sạt lở cao trong điều kiện không có công trình bảo vệ, đặc biệt trong mùa kiệt khi mực nước xuống thấp. Việc áp dụng các giải pháp công trình giúp nâng cao đáng kể hệ số ổn định mái dốc, đảm bảo an toàn và giảm thiểu rủi ro sạt lở. Nghiên cứu khẳng định hiệu quả và tính khả thi của việc kết hợp mô hình MIKE – GeoSlope trong dự báo, đánh giá và đề xuất giải pháp bảo vệ bờ sông. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học phục vụ quản lý rủi ro, quy hoạch không gian ven sông và phát triển bền vững đô thị ven sông tại khu vực phường Long Xuyên và Bình Đức, tỉnh An Giang.</p> Huỳnh Văn Vẽ, Trần Văn Tuẩn, Lâm Tấn Phát, Huỳnh Vương Thu Minh, Trần Văn Tỷ Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1220 Mon, 26 Jan 2026 00:00:00 +0000 Nghiên cứu tái sử dụng oxit zircon từ phế thải của ngành nha khoa thẩm mỹ để cải thiện khả năng phản xạ hồng ngoại của men ngói https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1196 <p>Việt Nam là nước có bức xạ năng lượng mặt trời lớn, đặc biệt vào những ngày mùa hè ở các tỉnh miền Trung. Ngói là vật liệu lợp phổ biến ở nước ta, chúng có tính thẩm mỹ, có độ bền lâu, và tạo nét văn hóa riêng. Trong khi, hầu hết ngói lợp hiện nay không được tráng men, nên ngói hấp thụ nhiệt nhiều làm tăng nhiệt độ không khí trong nhà.<br />Men ngói là một lớp thủy tinh mỏng phủ trên bề mặt, lớp men này không chỉ giúp ngói bền với môi trường còn có thể giúp giảm hấp thụ nhiệt bức xạ mặt trời. Việc nghiên cứu về chế tạo vật liệu men cho ngói giúp tăng khả năng phản xạ nhiệt hồng ngoại còn rất hạn chế. Trong khi, phế thải nha khoa chứa ZrO2 chưa được quan tâm xử lý một cách hiệu quả. Trong nghiên cứu này, phế thải nha khoa chứa ZrO<sub>2</sub> được sử dụng làm phụ gia (từ 2 đến 10% khối lượng phối liệu) để chế tạo lớp men ngói có khả năng phản xạ tia hồng ngoại tới hơn 3 lần.</p> Ngô Hương Trà, Đinh Thị Thu Uyên, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Nhân Hòa Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1196 Tue, 13 Jan 2026 00:00:00 +0000 Xây dựng bộ tiêu chí hỗ trợ ra quyết định tham gia đấu thầu cho nhà thầu https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1216 <p>Trong bối cảnh thị trường xây dựng tại Việt Nam ngày càng cạnh tranh gay gắt, quyết định tham gia hay không tham gia đấu thầu có ý nghĩa then chốt đối với hiệu quả tài chính, phân bổ nguồn lực và sự phát triển bền vững của nhà thầu. Tuy nhiên, trên thực tế, quyết định này phần lớn vẫn dựa vào kinh nghiệm cá nhân và đánh giá định tính, thiếu các công cụ hỗ trợ mang tính hệ thống và được kiểm định khoa học. Nghiên cứu này nhằm xây dựng và kiểm định một bộ tiêu chí hỗ trợ ra quyết định tham gia đấu thầu cho nhà thầu xây dựng tại việt nam dựa trên phương pháp định lượng. Từ tổng quan tài liệu và tham vấn chuyên gia, nghiên cứu xác định 35 tiêu chí ảnh hưởng đến quyết định tham gia đấu thầu. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát 180 kỹ sư có kinh nghiệm và sử dụng các phương pháp phân tích bao gồm kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả phân tích EFA cho thấy các tiêu chí được cấu trúc thành bốn nhóm nhân tố chính gồm năng lực nội bộ của nhà thầu, điều kiện hợp đồng và các rủi ro từ chủ đầu tư, khả năng và rủi ro tài chính, và chiến lược nhà thầu cùng các yếu tố bên ngoài. Kết quả mô hình SEM chỉ ra rằng nhân tố năng lực nội bộ của nhà thầu và các tiêu chí liên quan đến chủ đầu tư có ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định tham gia đấu thầu, trong khi các tiêu chí tài chính có ảnh hưởng trung bình và các tiêu chí môi trường bên ngoài có tác động thấp hơn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một quy trình ứng dụng kết quả mô hình nhằm hỗ trợ nhà thầu đưa ra quyết định tham gia đấu thầu một cách khoa học, khách quan và phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam.</p> Nguyễn Anh Thư, Chu Bá Hùng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1216 Mon, 26 Jan 2026 00:00:00 +0000 Áp dụng phân tích SWOT và TOWS để xây dựng chiến lược phát triển công trình xanh tại Việt Nam https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1234 <p>Công trình xanh ngày càng trở thành xu hướng chủ đạo trong ngành xây dựng tại Việt Nam, nhằm hướng tới sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Các dự án công trình xanh tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên vẫn còn đối mặt với những thách thức lớn như chi phí đầu tư cao, thiếu cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ chưa đầy đủ. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của các dự án công trình xanh thông qua việc áp dụng phương pháp phân tích SWOT và TOWS. Mục tiêu nghiên cứu là tìm ra các yếu tố chính tác động đến sự phát triển của công trình xanh, đồng thời đề xuất những chiến lược quản lý phù hợp để tối ưu hóa hiệu quả và khắc phục các thách thức. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập và phân tích dữ liệu từ các chuyên gia trong ngành, cũng như đánh giá các chiến lược thông qua mô hình TOWS. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về hiện trạng ngành công trình xanh tại Việt Nam, đồng thời đưa ra các giải pháp chiến lược và khuyến nghị giúp nâng cao hiệu quả quản lý cho các dự án công trình xanh</p> Huỳnh Bá Mạnh Cường, Lương Đức Long, Huỳnh Hiếu Liêm Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1234 Tue, 27 Jan 2026 00:00:00 +0000 Hiệu quả hoạt động của ban giám sát đầu tư của cộng đồng trong các dự án xây dựng nông thôn mới: phân tích tại Long Hồ - Vĩnh Long https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1214 <p>Giám sát đầu tư cộng đồng là cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm tính minh bạch và nâng cao hiệu quả quản lý các dự án đầu tư công, đặc biệt trong xây dựng nông thôn mới. Bài báo này đánh giá hiệu quả hoạt động của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng trong các dự án xây dựng nông thôn mới sử dụng vốn đầu tư công trên địa bàn Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở tổng hợp tài liệu, khảo sát thực tế và điều tra bằng bảng hỏi đối với các đối tượng liên quan như thành viên Ban Giám sát đầu tư cộng đồng, chủ đầu tư và đại diện chính quyền địa phương. Dữ liệu thu thập được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả nhằm phản ánh thực trạng hoạt động giám sát đầu tư cộng đồng tại địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy Ban Giám sát đầu tư cộng đồng đã góp phần giám sát tiến độ, chất lượng công trình và việc tuân thủ quy định trong các dự án xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động vẫn còn hạn chế do năng lực chuyên môn của thành viên chưa đồng đều, điều kiện hỗ trợ còn thiếu và cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan chưa hiệu quả. Bài báo cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện công tác giám sát đầu tư của cộng đồng ở cấp cơ sở.</p> Đỗ Thị Mỹ Dung, Nguyễn Hửu Danh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1214 Tue, 13 Jan 2026 00:00:00 +0000 Tối ưu kích thước tiết diện cống của hệ thống thoát nước đô thị sử dụng MOEA/D-EpDE https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1228 <p>Tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng đang gây áp lực lớn lên các hệ thống thoát nước đô thị cũ kỹ và xuống cấp. Do đó, nhu cầu sửa chữa, nâng cấp hoặc xây dựng mới hạ tầng thoát nước trở nên cấp thiết - một thách thức mà nhiều thành phố trên thế giới đang đối mặt. Bài báo này đề xuất một phương pháp tối ưu hóa đa mục tiêu để lựa chọn phương án kích thước tiết diện cống cho hệ thống thoát nước đô thị. Trong phương pháp đề xuất, hai mục tiêu chính: tổng chi phí xây dựng và tổng thể tích ngập được cực tiểu hóa đồng thời, thông qua việc lựa chọn đường kính cống từ một tập rời rạc định trước, với các ràng buộc về tỷ lệ đường kính và vận tốc dòng chảy. Hiệu suất thủy lực của hệ thống được mô hình hóa bằng chương trình mô hình quản lý nước mưa một chiều (Storm Water Management Model, SWMM). Bài toán tối ưu được giải bằng thuật toán MOEA/D-EpDE. Hiệu quả của phương pháp được minh họa qua nghiên cứu trường hợp hệ thống thoát nước đô thị tại thành phố Chuncheon, tỉnh Gangwon, Hàn Quốc. Kết quả cho thấy MOEA/D-EpDE vượt trội so với nhiều thuật toán tối ưu đa mục tiêu khác về các chỉ số hội tụ, đa dạng và chất lượng tập Pareto, đồng thời là công cụ hữu ích cho quản lý hạ tầng đô thị.</p> Cao Trường Sơn, Lê Chí Công, Trương Việt Hùng, Nguyễn Ngọc Thắng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1228 Fri, 23 Jan 2026 00:00:00 +0000 Phân tích và đánh giá các công thức thực nghiệm xác định chiều dài nước nhảy trên nền nhẵn bằng mô phỏng CFD https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1206 <p>Nước nhảy là cơ chế tiêu tán năng lượng quan trọng trong dòng chảy kênh hở, trong đó việc xác định chính xác chiều dài nước nhảy có ý nghĩa quyết định đối với thiết kế quy mô bể tiêu năng. Mặc dù, đã có nhiều công thức thực nghiệm được đề xuất để dự báo chiều dài nước nhảy ổn định và từ do trên nền nhẵn <em>L<sub>j</sub></em>, nhưng kết quả giữa các công thức vẫn tồn tại sai khác đáng kể khi áp dụng cho cùng số Froude đầu kênh <em>Fr</em><sub>1</sub>. Do đó, nghiên cứu này sử dụng phương pháp mô phỏng số với hai mô hình rối <em>k </em>– <em>ε</em> và RNG <em>k </em>– <em>ε</em> cho số Froude đầu kênh từ 4,61 đến 8,6 để phân tích và đánh giá độ phù hợp của các công thức thực nghiệm khi xác định <em>L<sub>j</sub></em>. Kết quả nghiên cứu chỉ rõ sự thay đổi phân bố vận tốc của dòng chảy dọc kênh, chênh lệch về biên dạng vận tốc dòng chủ cho các mô hình rối. Đồng thời nghiên cứu cũng tái hiện đầy đủ hình ảnh đường dòng giúp việc xác định và nhận diện chiều dài nước nhảy và chiều dài khu xoáy nước <em>L<sub>r</sub></em> được rõ ràng hơn. Mặt khác, nghiên cứu cho thấy các kết quả dự báo <em>L<sub>j</sub></em> và <em>L<sub>r</sub></em> với mô hình số có sự chênh lệch đáng kể giữa hai mô hình rối và thiên nhỏ hơn so với các công thức thực nghiệm, đặc biệt ở dải số <em>Fr</em><sub>1</sub> trung bình đến lớn. Nghiên cứu cung cấp cơ sở định lượng hỗ trợ lựa chọn mô hình rối phù hợp và góp phần nâng cao độ tin cậy trong việc xác định chiều dài nước nhảy phục vụ thiết bể tiêu năng trên nền nhẵn.</p> <div style="all: initial !important;">&nbsp;</div> <div style="all: initial !important;">&nbsp;</div> Trịnh Công Tý Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1206 Tue, 20 Jan 2026 00:00:00 +0000 Đánh giá ảnh hưởng của tải trọng và dao động mực nước đến ổn định bờ sông: trường hợp nghiên cứu tại sông Ô Môn, thành phố Cần Thơ https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1223 <p>Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá ổn định bờ sông Ô Môn, thành phố Cần Thơ, kết hợp số liệu khảo sát thực địa với phân tích ổn định mái dốc được mô phỏng theo các mô hình tính toán chuyên ngành (GeoSlope và Plaxis 2D) theo các kịch bản mực nước và tải trọng khác nhau. Các thông số địa kỹ thuật thu thập từ hiện trường được sử dụng để phân tích ổn định bờ trong điều kiện thấm ổn định và giai đoạn mực nước hạ thấp nhanh, nhằm đánh giá ảnh hưởng của dao động mực nước và tải trọng bổ sung đến hệ số ổn định mái dốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình hạ thấp nhanh mực nước làm suy giảm đáng kể ổn định bờ sông do áp lực nước lỗ rỗng trong thân bờ không kịp tiêu thoát, ngay cả khi lưu tốc dòng chảy không lớn. Tải trọng bổ sung trên bờ tiếp tục làm gia tăng nguy cơ mất ổn định, đặc biệt tại các đoạn có lớp đất mềm bão hòa. Sự tương đồng trong kết quả phân tích giữa hai mô hình (GeoSlope và Plaxis 2D) khẳng định tính tin cậy của các cơ chế mất ổn định được nhận diện. Nghiên cứu cung cấp cơ sở định lượng cho việc đánh giá ổn định bờ sông dưới tác động tổng hợp của yếu tố thủy văn và địa kỹ thuật, góp phần hỗ trợ công tác quản lý và giảm thiểu rủi ro sạt lở bờ sông tại các khu vực chịu ảnh hưởng mạnh của dao động mực nước theo triều ở Đồng bằng sông Cửu Long.</p> Huỳnh Minh Hoàng, Lâm Tấn Phát, Trần Hoàn Bách, Trần Văn Tỷ, Trần Văn Tuẩn Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1223 Mon, 26 Jan 2026 00:00:00 +0000 Giải pháp huy động tài chính xanh cho hạ tầng chống ngập lụt đô thị ven biển thành phố Hải Phòng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1203 <p>Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang đặt ra thách thức nghiêm trọng với các đô thị ven biển, đặc biệt là Việt Nam. Thành phố Hải Phòng là đô thị cảng quan trọng với 129 km bờ biển, đang chịu tác động nặng nề từ ngập lụt do mưa lớn, triều cường và đô thị hóa nhanh. Nhu cầu đầu tư hạ tầng chống ngập đến 2040 lên tới 483.000 tỷ đồng, trong khi ngân sách công hạn chế. Bài báo phân tích thực trạng ngập lụt và đánh giá tiềm năng ứng dụng các công cụ tài chính xanh như trái phiếu xanh, tín dụng xanh, cơ chế hợp tác công tư (Public–Private Partnership - PPP) xanh tại Thành phố Hải Phòng dựa trên khung pháp lý quốc gia và kinh nghiệm quốc tế. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích dữ liệu khí tượng, hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System – GIS) và ma trận SWOT. Kết quả cho thấy, để huy động hiệu quả nguồn lực, thành phố cần: (i) chuẩn hóa dự án theo tiêu chuẩn xanh; (ii) đa dạng hóa công cụ tài chính; (iii) tích hợp hạ tầng "cứng" với hệ thống quản lý thông minh; (iv) tăng cường hợp tác quốc tế. Các giải pháp được đề xuất nhằm thu hẹp khoảng cách tài chính, tăng cường khả năng chống chịu và thúc đẩy phát triển bền vững.</p> Bùi Thị Ngọc Lan, Thân Đức Lương, Đồng Thị Diệu Trinh, Nguyễn Hữu Thuyên, Phan Dương Yến Nhi Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1203 Tue, 13 Jan 2026 00:00:00 +0000 Nghiên cứu sử dụng bùn đỏ đuôi quặng Tân Rai làm cốt liệu nhỏ để chế tạo gạch bê tông tự chèn cho hạ tầng đô thị https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1218 <p>Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu sử dụng bùn đỏ đuôi quặng (bùn đỏ) Tân Rai (Lâm Đồng) làm cốt liệu nhỏ thay thế một phần cát tự nhiên và sử dụng hàm lượng lớn các nguyên vật liệu phía Nam để chế tạo gạch bê tông tự chèn trong xây dựng cơ sở hạ tầng, loại bê tông này có thể đạt cường độ chịu nén 28 ngày cao hơn 40MPa. Bốn cấp phối bê tông với hàm lượng bùn đỏ lần lượt là 0%, 10%, 20%, 30% theo khối lượng được thiết kế và đánh giá tính công tác, tính cơ lý của bê tông. Kết quả cho thấy khi hàm lượng bùn đỏ tăng từ 0% đến 30%, cường độ chịu nén tại 28 ngày giảm từ 52 MPa xuống 17 MPa; cường độ chịu kéo khi uốn giảm từ 4,53 MPa xuống 2,38 MPa; trong khi độ hút nước và độ mài mòn tăng tương ứng từ 3,52% lên 13,57% và từ 0,35 lên 1,10 g/cm². Trong số các cấp phối khảo sát, bê tông sử dụng 10% bùn đỏ đáp ứng tốt các yêu cầu về độ linh động và tính chất cơ lý theo TCVN 6476:1999 của gạch bê tông tự chèn, trong khi các cấp phối chứa 20% và 30% bùn đỏ không thỏa mãn các chỉ tiêu kỹ thuật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hàm lượng bùn đỏ thay thế cát tự nhiên ở mức 10% là tối ưu, đảm bảo đồng thời các yêu cầu về tính công tác, cường độ, độ hút nước, độ mài mòn và hiệu quả kinh tế.</p> Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Công Hậu Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1218 Mon, 26 Jan 2026 00:00:00 +0000 Đánh giá mô đun đàn hồi của bê tông khi sử dụng phế thải xây dựng thay thế cát tự nhiên https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1089 <p>Mô đun đàn hồi của bê tông là một thông số quan trọng trong kỹ thuật xây dựng, biểu thị độ cứng và khả năng chịu biến dạng đàn hồi của bê tông khi chịu tác động của lực nén hoặc lực kéo. Về cơ bản, nó thể hiện mức độ biến dạng của vật liệu dưới tác dụng của ứng suất. Trong bài báo này, các tác giả tiến hành thí nghiệm trên ba tổ mẫu lập phương. Một tổ mẫu đúc từ cát sông Tiền, một tổ mẫu đúc từ sản phẩm nghiền phế thải bê tông sàn và một tổ mẫu đúc từ sản phẩm nghiền phế thải tường gạch. Qua đó so sánh mô đun đàn hồi của các tổ mẫu. Kết quả cho thấy, tổ mẫu bê tông làm từ sản phẩm nghiền từ bê tông sàn đạt giá mô đun đàn hồi lớn nhất. Tổ mẫu bê tông làm từ sản phẩm nghiền từ tường gạch có giá trị mô đun đàn hồi nhỏ nhất.</p> Trần Thị Ngọc Hoa, Nguyễn Hồng Đạt Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1089 Tue, 13 Jan 2026 00:00:00 +0000 Mô hình giàn ảo cải tiến xác định khả năng chịu xoắn dầm bê tông cốt sợi thép https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1237 <p>Bài báo này đề xuất mô hình giàn ảo cải tiến (MSTM) nhằm dự báo khả năng chịu xoắn thuần túy của dầm bê tông cốt sợi thép (SFRC), các tiêu chuẩn hiện hành chưa cung cấp hướng dẫn đầy đủ và thống nhất trong thiết kế kháng xoắn cho loại kết cấu này. Mô hình MSTM được phát triển trên cơ sở lý thuyết giàn ảo không gian và lý thuyết ống thành mỏng tương đương, đồng thời xét đến đóng góp sau nứt của sợi thép thông qua các thành phần chịu kéo tương đương theo phương dọc và phương đứng, từ đó xác lập sức kháng xoắn theo điều kiện giới hạn bởi các cơ chế chịu lực chi phối của hệ giàn. Độ tin cậy của mô hình đề xuất được kiểm chứng bằng cơ sở dữ liệu gồm 86 dầm SFRC tổng hợp từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đây và so sánh với các mô hình giàn ảo theo tiêu chuẩn ACI 318-19. Kết quả tính toán cho thấy mô hình giàn ảo theo ACI 318-19 có xu hướng dự báo thiên về an toàn; việc hiệu chỉnh góc nghiêng <em>θ</em> cho dự báo phù hợp hơn nhưng vẫn thấp hơn thực nghiệm. Trái lại, mô hình MSTM cho ước tính phù hợp nhất và dự báo gần sát thực nghiệm đối với dầm SFRC chịu xoắn thuần túy.</p> Nguyễn Vĩnh Sáng, Võ Nhật Linh, Lê Thị Thanh Hiếu, Vũ Hoàng Minh Khang Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1237 Fri, 30 Jan 2026 00:00:00 +0000 So sánh hiệu quả ứng dụng BIM trong công tác lập dự toán xây dựng ở Vĩnh Long https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1215 <p>Trong công tác lập dự toán xây dựng tại Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng còn nhiều hạn chế như sai lệch khối lượng, cơ cấu chi phí chưa chính xác, điều chỉnh, cập nhật số liệu mất nhiều thời gian,…dẫn đến giá trị thực tế vượt tổng mức đầu tư, gây khó khăn cho việc sử dụng kinh phí dự án, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công. Bài báo này góp phần làm rõ hiệu quả của mô hình thông tin công trình (BIM) trong thực tiễn tại địa phương, mang ý nghĩa học thuật khi bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng dụng BIM trong công tác lập dự toán xây dựng tại Việt Nam, sử dụng pháp phân tích thứ bậc AHP để đưa ra sự lựa chọn phương pháp bóc tách khối lượng dự toán, kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Xây dựng, các chủ đầu tư, đơn vị tư vấn và nhà thầu có thêm cơ sở khoa học để triển khai BIM một cách hiệu quả, góp phần giảm thiểu sai sót, kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả đầu tư công tại tỉnh Vĩnh Long.</p> Trương Công Bằng, Trần Thị Từ Quy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1215 Fri, 16 Jan 2026 00:00:00 +0000 Chuyển đổi thể chế trong quản lý trật tự xây dựng theo quy hoạch: phân tích từ góc độ mô hình chính quyền đô thị hai cấp tại Việt Nam https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1233 <p>Bài báo tập trung phân tích những chuyển biến căn bản trong công tác quản lý trật tự xây dựng theo quy hoạch tại Việt Nam, đặt trong bối cảnh cải cách thể chế với việc áp dụng mô hình chính quyền đô thị hai cấp (cấp tỉnh/thành phố và cấp xã/phường). Bằng phương pháp phân tích tài liệu và tổng quan lý thuyết, bài viết làm rõ ba vấn đề trọng tâm: (1) Bản chất pháp lý và nội hàm của quản lý trật tự xây dựng theo quy hoạch như một công cụ hiện thực hóa không gian đô thị; (2) Sự chuyển dịch từ cơ chế “ủy quyền” sang “phân quyền” và cá nhân hóa trách nhiệm tại cấp cơ sở theo mô hình mới; (3) Những thách thức đan xen giữa khung pháp lý còn độ trễ, áp lực kinh tế - đô thị hóa và năng lực thực thi. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, hiệu quả của mô hình hai cấp phụ thuộc vào tính đồng bộ giữa việc hoàn thiện thể chế phân quyền, số hóa triệt để dữ liệu quy hoạch và xây dựng năng lực chuyên môn cho đội ngũ “công chức tuyến đầu”. Bài báo đề xuất hàm ý chính sách nhằm tăng cường tính khả thi và hiệu lực của công tác quản lý trật tự xây dựng trong giai đoạn chuyển đổi thể chế hiện nay.</p> Đào Thị Như, Nguyễn Quốc Toản, Nguyễn Văn Tuyên, Ninh Duy Quang Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1233 Mon, 26 Jan 2026 00:00:00 +0000 Tối ưu hóa hiệu quả kinh tế công tác bảo trì công trình ven biển: Đề xuất mô hình tích hợp LCC, CBA và công nghệ số trong bối cảnh biến đổi khí hậu https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1211 <p>Biến đổi khí hậu đang trở thành một trong những thách thức cấp bách trên toàn cầu, tác động mạnh mẽ đến mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt tại các khu vực ven biển. Sự gia tăng của các hiện tượng cực đoan như nước biển dâng, xói lở bờ biển và thời tiết bất thường đã và đang làm suy thoái hệ sinh thái, môi trường tự nhiên cũng như hạ tầng ven biển. Việt Nam với đường bờ biển dài hơn 3.260 km, là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi đổi khí hậu nên gặp nhiều rủi ro trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, hệ thống công trình ven biển chịu áp lực lớn như gia tăng chi phí đầu tư, vận hành và bảo trì, đồng thời đe dọa hiệu quả kinh tế dài hạn của các dự án. Bài báo tập trung phân tích các khó khăn và thách thức kinh tế trong công tác bảo trì công trình ven biển dưới tác động của biến đổi khí hậu. Trên cơ sở tổng quan các công cụ kinh tế công trình như phân tích chi phí vòng đời (Life Cycle Cost - LCC), phân tích lợi ích – chi phí (Cost–Benefit Analysis - CBA) và đánh giá rủi ro, nghiên cứu đề xuất một mô hình tích hợp kinh tế – kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư bảo trì. Mô hình bao gồm lập kế hoạch bảo trì dựa trên rủi ro, ứng dụng công nghệ số như mạng lưới vạn vật kết nối Internet (Internet of Things – IoT), trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) và mô phỏng. Các công cụ này hỗ trợ ra quyết định tài chính và xây dựng cơ chế tài chính bền vững cùng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả kinh tế, hướng tới bảo trì chủ động và tăng cường khả năng chống chịu của hạ tầng ven biển.</p> Bùi Thị Ngọc Lan Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1211 Tue, 13 Jan 2026 00:00:00 +0000 Phân tích các tác động của việc phát hiện xung đột theo quy trình BIM đến hiệu quả hoàn thành dự án xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1224 <p>Trong bối cảnh các dự án xây dựng ngày càng phức tạp, việc kiểm soát xung đột thiết kế giữa các bộ môn đóng vai trò quan trọng đối với hiệu quả hoàn thành dự án. Nghiên cứu này tập trung phân tích các tác động của việc phát hiện xung đột theo quy trình BIM đến hiệu quả dự án xây dựng theo các khía cạnh tiến độ, chi phí, chất lượng, sự phối hợp và quản lý rủi ro. Thông qua tổng hợp và phân tích các nghiên cứu khoa học, tiêu chuẩn BIM quốc tế và các ví dụ thực tiễn, kết quả cho thấy việc phát hiện và xử lý xung đột sớm theo quy trình BIM giúp giảm đáng kể công việc làm lại, rút ngắn thời gian thi công, tiết kiệm chi phí đầu tư và nâng cao chất lượng công trình. Ngoài ra, phát hiện xung đột còn cải thiện hiệu quả phối hợp giữa các bên liên quan, tăng tính minh bạch thông tin và chủ động hỗ trợ quản lý các rủi ro. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra một số thách thức trong triển khai BIM tại Việt Nam, để từ đó có được định hướng hoàn thiện tiêu chuẩn, quy trình và năng lực về BIM cho các dự án xây dựng.</p> Nguyễn Minh Ngọc, Tạ Văn Phấn, Dương Văn Thái Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng https://ojs.jomc.vn/index.php/vn/article/view/1224 Tue, 27 Jan 2026 00:00:00 +0000