TẠP CHÍ VẬT LIỆU & XÂY DỰNG
Tạp chí Vật liệu và Xây dựng là tạp chí khoa học của Viện Vật liệu xây dựng (VIBM), tiền thân là Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển Vật liệu xây dựng (ISSN1859-381X), được thành lập ngày 16/02/2011 theo Giấy phép số 175/GP-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông với số lượng xuất bản ban đầu là 04 số/năm, ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng Việt. Năm 2014, Bộ Thông tin và Truyển thông cho phép Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển VLXD tăng kỳ xuất bản và bổ sung ngôn ngữ tiếng Anh (Journal of Building Materials Research and Development – ISSN1859-381X) theo Giấy phép số 221/GP-BTTTT ngày 17/07/2014.
Với mục tiêu phát triển Tạp chí theo hướng mở rộng lĩnh vực, nội dung, tăng cường chất lượng và số lượng, hướng tới hội nhập quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển vật liệu xây dựng đã đề nghị và được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép (số 564/GP-BTTTT ngày 03/12/2020) đổi tên thành Tạp chí Vật liệu và Xây dựng – Journal of Materials and Construction. Tạp chí Vật liệu và Xây dựng là tạp chí khoa học có phản biện, đăng tải các bài báo khoa học thuộc lĩnh vực vật liệu xây dựng; cơ khí xây dựng; kiến trúc và qui hoạch; kinh tế và quản lý xây dựng; hạ tầng kỹ thuật và môi trường xây dựng,…
Website chính thức của Tạp chí bằng tiếng Việt (ISSN1859-381X) và Tạp chí bằng tiếng Anh là (ISSN 2734-9438) tương ứng như sau:
Để xứng đáng với sự tin cậy của quý bạn đọc và đáp ứng yêu cầu chất lượng cao của Tạp chí, Ban Biên tập Tạp chí rất mong tiếp tục nhận được sự đồng hành, đóng góp nhiệt tình của các nhà khoa học, các chuyên gia, các đối tác trong và ngoài nước bằng cách đóng góp ý kiến, gửi bài đăng trên Tạp chí và đọc phản biện cho các bài báo gửi đến Tạp chí.
Xin trân trọng cảm ơn!
Mô hình giàn ảo cải tiến xác định khả năng chịu xoắn dầm bê tông cốt sợi thép
Áp dụng phân tích SWOT và TOWS để xây dựng chiến lược phát triển công trình xanh tại Việt Nam
Chuyển đổi thể chế trong quản lý trật tự xây dựng theo quy hoạch: phân tích từ góc độ mô hình chính quyền đô thị hai cấp tại Việt Nam
Diễn biến nồng độ bụi PM2.5 ở một số khu vực trung tâm Thành phố Hà Nội và đề xuất một số giải pháp kiểm soát ô nhiễm bụi PM2.5
Tối ưu kích thước tiết diện cống của hệ thống thoát nước đô thị sử dụng MOEA/D-EpDE
Phân tích các tác động của việc phát hiện xung đột theo quy trình BIM đến hiệu quả hoàn thành dự án xây dựng
Đánh giá ảnh hưởng của tải trọng và dao động mực nước đến ổn định bờ sông: trường hợp nghiên cứu tại sông Ô Môn, thành phố Cần Thơ
Quản lý tài nguyên nước bền vững ở trung quốc: Tiếp cận tổng hợp về thể chế, công nghệ và kinh tế tuần hoàn
Ứng dụng mô hình toán trong đánh giá ổn định đường bờ sông Hậu, đoạn qua phường Long Xuyên và Bình Đức, tỉnh An Giang
Ứng dụng mô hình SERVPERF nghiên cứu sự hài lòng của cư dân với chất lượng chung cư xây dựng tại khu vực Hà Nội
Trang 78 - Trang 84
Các yếu tố rủi ro ảnh hưởng chi phí triển khai các dự án đầu tư xây dựng theo định hướng phát triển bền vững
Trang 82 - Trang 88
Ứng dụng ma trận SWOT thực hiện phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức cho các dự án năng lượng điện gió ở Việt Nam
Trang 112 - Trang 122
Thực hiện ESG đối với các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị
Trang 164 - Trang 170
Quản trị nhân sự quản lý dự án trong ngành xây dựng: thách thức và cơ hội của cách mạng công nghiệp 4.0
Trang 198 - Trang 205
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đấu thầu xây lắp của nhà thầu thi công trong các dự án xây dựng dân dụng tại TP.HCM
Trang 147 - Trang 153
Ứng dụng các phương pháp phân tích chuỗi thời gian trong dự báo nhu cầu và lập kế hoạch sản xuất bê tông thương phẩm: Nghiên cứu điển hình tại Công ty CP Bê tông Vina 21
Trang 63 - Trang 71
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nguồn lực trong ngành xây dựng Việt Nam
Trang 42 - Trang 47
Rào cản trong việc triển khai kinh tế tuần hoàn vào ngành xây dựng tại Việt Nam
Trang 98 - Trang 104

